Gần 50 năm sau ngày thống nhất đất nước, trong một chuyến đi dọc sông Hậu Giang, nhà thơ Trang Thanh viết bài thơ “Nếu đi hết sông này”*, khi nghĩ về những gì đang nhói lên, dội lên hai bờ sông, trên chính dòng sông, từ lần đi của mình để nghĩ về những chuyến đi của cha anh, của bao người thuở trước:
“Bấy nhiêu cuộc đi thăm thẳm không cùng
Ngoái lại giàn nước mắt”
Và nhà thơ vẫn bắt gặp những điều trong thơ của cha anh từng viết, từng dự cảm:
“…khôn nguôi những cuộc kiếm tìm
Mẹ đi tìm con, vợ đi tìm chồng, anh đi tìm em”.
…Trên đường đi tới biển, có thể là sông Hậu cụ thể hay với bất cứ dòng-sông-cuộc-đời nào khác, trong thơ vẫn là những dòng chảy đầy khao khát, vươn tìm ở phía trước, những nỗi nhớ bất diệt, những đợi chờ “neo dọc triền sông” nối tiếp nhau, quyện chặt với nhau trong câu thơ với những ý thơ không đặt dấu phẩy thông thường:
“Biển đợi sông/mẹ đợi con/vợ đợi chồng
Nỗi nhớ/trăng sào/bồi lở/bến mênh mông”
Thơ Việt Nam sau năm 1975 từng có những tác phẩm thể hiện được tầm vóc lớn lao của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, của những nẻo đường kháng chiến để tụ về Đường-Số-Một thống nhất đất nước. Đó là các trường ca “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Con đường của những vì sao” của Nguyễn Trọng Tạo và nhiều tập thơ, bài thơ nổi tiếng khác… Và nhà thơ thế hệ sau muốn tiếp bước phải chọn đi lối riêng hoặc phải dày công tìm tòi để phát hiện, bổ sung những điều mới mẻ, thuyết phục, nhất là khi sáng tạo về cùng một nội dung, đề tài vốn rất thành công của người đi trước.
*
Điều kỳ diệu là cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam tiếp tục gây tiếng vang sau năm 1975 bằng những lối đi của thơ, của văn học-nghệ thuật và nhiều con đường khác. Như sông về biển, từng bước đi của dòng-sông-thơ-Việt ra biển lớn, ra thế giới và từ thế giới đến Việt Nam đều trĩu nặng trong tim và mang đậm dấu ấn “khôn nguôi những cuộc kiếm tìm”[h1] . Trong đó, đáng chú ý là con đường tìm về Việt Nam, tìm lại những người Việt Nam từng là “cựu thù” trong chiến tranh. Vấn đề đặc biệt ở chỗ những cựu thù đi tìm nhau để “cùng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, để gắn bó với nhau bằng tâm hồn đồng điệu như cách nhà thơ cựu binh Mỹ Bruce Weigl thường coi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều như người em ruột và cũng chính nhà thơ này đã xin nhận con nuôi là cô gái Việt quê ở Hà Nam tên Nguyễn Thị Hạnh Weigl (tác phẩm “Vòng tròn của Hạnh” từng gây tiếng vang rất lớn trên văn đàn Mỹ và Việt Nam). Để rồi trong một gia đình người Mỹ có thân nhân là cô gái Việt và người cha thi sĩ cất lên tiếng hát yêu thương “Cha muốn nói rằng con là dòng sông của cha/hoặc con là đóa hoa của cha/hoặc con là con chim vàng anh/Nhưng cha không muốn chữ nghĩa trói buộc con cách chữ nghĩa thường làm” (Con gái của bố)**. Hơn thế nữa, người cha còn mượn lời con gái để nói về người mẹ Việt Nam, thêm một thân nhân đầy kính trọng: “Giờ đây Mẹ trở về thóc giống/để chúng con nâng niu, cất giữ, gieo trồng/để những hạt-gạo-Mẹ chúng con ăn vào cơ thể lại trổ đòng/lại xanh mướt xanh” (Lời thơ tặng Mẹ Nguyễn Thị Vẻ)***
…Đọc thơ Bruce Weigl, người yêu thơ dễ tìm thấy một tâm hồn trong sáng, chân thành của một người từng tham gia chiến tranh, sau đó đi đầu trong cuộc phản chiến của nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó thật sự là “những câu thơ được viết bằng máu và nước mắt” (lời của người chuyển ngữ-dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai). Hãy nghe tiếng thơ ông cất lên với nỗi ám ảnh thường trực “cả bây giờ cả khi nhắm mắt” từ một tâm hồn đa cảm, đầy xót thương, tội lỗi trong bài thơ Bài hát bom napan***:
“…Nhưng những cành cây vẫn là dây kẽm gai
Tiếng sấm vẫn là tiếng súng cối nã đạn
Cả bây giờ cả khi nhắm mắt
Anh vẫn nhìn thấy bé gái chạy ra từ ngôi làng
bom napan dính chặt cô vào máu”
Nhà thơ nói được đến tận cùng điều ám ảnh khôn nguôi:
“Cô bé bị đốt cháy sau võng mạc của anh
Không gì có thể thay đổi được điều đó”
Trong bài thơ “Kỷ niệm ngày được tha thứ”, nhà thơ một lần nữa tự xé mình ra trước trang viết, dũng cảm đối diện với sự thật nghiệt ngã của những người lính phản chiến, những người mang nặng hội chứng chiến tranh không gì có thể chữa lành:
“Chiến tranh đã ăn ruỗng tôi
Tôi không thể chạm vào ai được nữa
Ngọn gió thổi xuyên qua tôi đến nơi xanh thẳm
nơi họ vẫn ngã xuống trong biển máu
Tôi vẫn nghe tiếng họ đêm đêm…”.
…Những người lính-người thơ như Bruce Weigl đã dũng cảm đối diện với sự thật cay đắng cũng chính là người dám đi tìm kiếm những điều ngọt lành, hạnh phúc cho mình, cho người khác, kể cả những cựu thù; bắt đầu từ bờ bên kia của cuộc chiến tranh phi nghĩa, đầy vết thương không lành đến bên này cùng lẽ phải, tình thương, sự hòa hợp để lấy lại giấc ngủ tròn; để từ một cá nhân, một tập thể nhỏ vươn ra một dân tộc và nhân loại bằng con đường thơ ca cất lên từ trái tim yêu tha thiết, yêu cháy bỏng cuộc sống hòa bình. Rất nhiều người Mỹ đã cùng tìm về “ngôi nhà Việt Nam” như Kevin Bowen, Fred Marchant, Martha Collins…, trong đó Kevin Bowen và Bruce Weigl đã vinh dự được đón nhận Huân chương Hữu nghị của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chính Tổng Bí thư Tô Lâm trao tận tay nhân chuyến thăm Mỹ hồi tháng 9/2024.
Để chúng ta cùng nhìn rõ, tiếp tục suy ngẫm, chờ đợi về “khôn nguôi những cuộc kiếm tìm” ấy của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, về những dấu ấn sáng tạo như những cột mốc trong những chặng đường thơ Việt, đồng thời hòa hợp, gắn kết cùng những cuộc “tìm về Việt Nam” của thơ ca Mỹ và thế giới.
*http://vannghequandoi.com.vn/tho/chum-tho-du-thi-cua-tac-gia-trang-thanh_13769.html.
**https://vannghedanang.org.vn/tho-bruce-weigl-6905.html.
***http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c230/n7209/Trang-tho-Bruce-Weigl.html.