Sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ đã góp phần làm nên hình ảnh một Việt Nam vừa kiên cường vừa dịu dàng. (Ảnh Mạnh Trường)
Sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ đã góp phần làm nên hình ảnh một Việt Nam vừa kiên cường vừa dịu dàng. (Ảnh Mạnh Trường)

Tổ quốc là nơi tiếng thơ còn vọng lại

Giữa mùa thu lịch sử, khi thanh âm Quốc ca lại ngân lên trong nắng sớm, cũng là lúc mỗi chúng ta nhớ đến những người lặng thầm giữ lửa ký ức dân tộc: nghệ sĩ - công dân - người kể chuyện của thời đại mình. 

Từ chiến khu đến thành phố, từ lời ca trong chiến hào đến tiếng hát trên sân khấu, người nghệ sĩ đã góp phần làm nên hình ảnh một Việt Nam vừa kiên cường vừa dịu dàng. Một cách chậm rãi và lặng thầm, nhưng trong trái tim mỗi người làm nghệ thuật, có một điều chưa bao giờ vơi đi: Tổ quốc!

Tiếng hát cất lên giữa đạn bom

Người nghệ sĩ, trong những năm tháng kháng chiến, đã viết, đã vẽ, đã hát lên, để sống cùng đất nước. Tiến quân ca của Văn Cao là bản sắc, là khí phách; những câu thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một lời thề. Cùng với đó, âm nhạc kháng chiến đã thắp lửa trong từng cuộc hành quân. Du kích sông Thao, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Giải phóng Điện Biên là máu chảy trong lòng người lính. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng kể, khi nghe chiến sĩ hát bài mình viết giữa rừng, ông như thấy tim mình hòa trong tiếng bước chân đi tới…

Thơ ca thời ấy sống trong tay người đọc. Những trang chép tay bài Việt Bắc, Lũy thép Vĩnh Linh như tờ lịch riêng của thời gian kháng chiến. Thơ thành lương khô, thành nước uống tinh thần, thành lời hẹn ngày về. Một nền nghệ thuật mang bản sắc Việt đã lặng lẽ thành hình trong kháng chiến, giữa những con người gắn liền máu thịt với nhân dân. Người nghệ sĩ sống như thể đất nước là chất liệu duy nhất để sáng tác. Thế nên, nghệ thuật trở thành nhân chứng không thể thay thế cho cả một thời kỳ của hy sinh và đoàn kết. Người nghệ sĩ dám chạm tay vào vết thương của đất nước, để nhìn thẳng, nói thật, và xoa dịu bằng nghệ thuật.

Có một thời, lời ca len qua những hố bom, vượt núi rừng, vượt cơn đói, mà ở lại trong lòng người như một ngọn lửa nhỏ. Trên màn ảnh, ánh mắt của Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, giọng nói của người cha trong Em bé Hà Nội như đang hiển hiện giữa đời sống thật. Như thể đất nước kể câu chuyện của mình qua khuôn mặt đàn bà và giấc mơ trẻ thơ còn dở dang. Các nghệ sĩ Trà Giang và Thế Anh đã không đơn thuần là diễn viên, mà họ là chứng nhân của thời đoạn gian lao và bi tráng.

Âm nhạc đã tạo một cây cầu giữ người ở lại, để lòng không chao đảo, không lạc đường. Những bài hát Quảng Bình quê ta ơi, Những ánh sao đêm... cất lên mực thước, giản dị, như lời ru động viên. Đoàn văn công Trường Sơn mang âm nhạc vào rừng, đến nơi không có ánh đèn, chỉ có những người lính sắp ra trận và cả những người không bao giờ trở về. Nghệ thuật không tô điểm chiến thắng, nhưng nghệ sĩ vẫn xung phong, giữ nhịp nối lặng lẽ từ hậu phương đến tiền tuyến.

Thơ ca thời ấy giản dị mà sâu lắng. Phạm Tiến Duật với Tiểu đội xe không kính lấm láp bùn đất, khói bụi, cơn mưa và nụ cười. Trẻ trung, tếu táo, nhưng đầy khí phách, thơ anh là một điểm sáng nhỏ khác biệt trong dòng thơ thời chiến. Nguyễn Khoa Điềm thì thầm lời đất nước, nơi Tổ quốc chính là trí nhớ, niềm tin, nỗi đau và hạnh phúc. Thơ không chỉ để ngâm nga, mà để hành động. Và để sống.

Nghệ thuật đã vừa là nhật ký, là bản đồ cảm xúc, là nơi người ta vừa yêu nước, vừa yêu đời. Nó không làm bớt đi sự rát bỏng của chiến cuộc, nhưng giúp con người đủ niềm tin vào tình yêu lấp lánh phía ngày mai.

Giữ ngọn lửa ký ức giữa thời bình

Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước không còn tiếng súng, nhưng nghệ thuật vẫn cần lên tiếng. Giữa lằn ranh thị trường và bản sắc, có những người chọn dấn thân bằng sự lặng lẽ. Đạo diễn Đặng Nhật Minh dành quá nửa sự nghiệp điện ảnh để trả lời một câu hỏi không dứt: Con người Việt Nam sau chiến tranh sống thế nào, nhớ ra sao, có còn khả năng tin và tha thứ? Những Bao giờ cho đến tháng Mười, Thương nhớ đồng quê, Mùa ổi… không kể chuyện, mà chạm vào những vết thương chiến tranh mãi chưa lành. Như ông từng nói: “Tôi mơ mộng lắm. Và tôi nghĩ nhiều về những số phận hắt hiu đầy mặt đất”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết bằng tiếng nói hòa giải. Khi hát Nối vòng tay lớn trên làn sóng phát thanh, ông hát để đất nước này liền lại. Ca từ của ông không gào thét, chỉ đủ để người ta lặng đi, rồi hiểu ra. Trong thế giới hậu chiến nhiều xáo trộn, giọng hát của ông là một khoảng bình yên không hoài nghi.

Đổi mới, nhưng nỗi băn khoăn của người nghệ sĩ vẫn còn nguyên đó: Viết gì cho đúng, sáng tạo thế nào cho tử tế, sống sao để xứng đáng với những giá trị đã được đánh đổi bằng máu. NSND Mỹ Uyên, một nghệ sĩ gắn với nhiều vai diễn khắc họa nhân vật lịch sử, chia sẻ: “Mỗi lần đứng trước máy quay là một lần mình chọn giữ lại hay làm rơi mất điều gì đó lớn hơn cả vai diễn, ấy là lòng tin của khán giả và sự thật của lịch sử, của đất nước”. Với chị, diễn là một lựa chọn giữa việc sống trung thực với nhân vật hay nhân nhượng thị hiếu, giữa việc trân trọng lịch sử hay nuông chiều cái tôi cá nhân.

Hiện tại, khi nghệ thuật có thể bị rút ngắn thành “nội dung online”, người nghệ sĩ phải là người gìn giữ giới hạn, không đo bằng lượt tương tác, mà bằng sự tin cậy của công chúng. “Làm nghề phải tử tế. Tử tế với vai diễn của mình, với đồng nghiệp và quan trọng nhất: tử tế với khán giả”, NSND Mỹ Uyên nói. Tinh thần đó là ranh giới để nghệ sĩ không bị cuốn đi giữa thời buổi nhiều giá trị đang bị xô lệch. Dẫu không còn chiến hào, nhưng nghệ thuật vẫn còn chiến tuyến: “giữa cái đúng và cái dễ dãi”.

Thế hệ nghệ sĩ trẻ hôm nay phải sống giữa nhiều chiều của một xã hội chuyển động nhanh, đôi khi thiếu điểm dừng. Đứng vững trong bối cảnh ấy, để viết một câu thơ thành thật, để hát một bản nhạc không chỉ nhằm lên đầu xu hướng, để diễn một vai không chiều theo thị hiếu, là một thái độ và bản lĩnh.

Trần Việt Hoàng, nhà thơ - thiếu úy quân đội, nói về thơ như nói về một sự cứu rỗi cá nhân: “Tôi viết để người lính hôm nay có thể gặp lại chính mình. Thơ ca phải là sự chưng cất từ những gì thành thực nhất”. Đó là giọng nói từ tốn của của một thế hệ mới. Trong Bay phía mùa, trường ca viết về sự hy sinh của người lính thời bình, anh tiết chế mọi bi lụy, để cảm xúc có thể thấm chứ không vỡ ra. “Chỉ trong sự cô đơn, nhà thơ mới đối thoại sâu, kỹ với chính mình”, anh nói.

Cùng một âm hưởng ấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung, người từng nổi tiếng với tình ca thị trường lại chọn quay về viết cho thiếu nhi, cho quê hương, cho những giá trị bền bỉ. Anh kể, khi đứng giữa nghĩa trang Hàng Dương, nơi sự im lặng là để tưởng nhớ những hy sinh thiêng liêng nhất, từ cảm xúc ấy, bài hát Viết tiếp câu chuyện hòa bình ra đời, như tiếng nói của sự biết ơn. “Mình không dám kêu gọi ai cả, mà chỉ muốn làm điều gì đó trong khả năng của mình: sống tử tế, viết tử tế”, anh chia sẻ. Đối với Nguyễn Văn Chung, nghệ sĩ không chỉ là công dân, mà là người công dân có ảnh hưởng. “Nghệ sĩ không được sống vô trách nhiệm, vì mỗi lời nói, mỗi bài hát của họ đều tác động đến những người trẻ vẫn đang cần thời gian để trưởng thành về nhân cách. Đó là lý do tôi thấy tự hào với lựa chọn hiện tại”.

Những người giữ lửa văn hóa

Khi đời sống văn hóa chuyển mình theo tốc độ công nghệ và thị trường, người nghệ sĩ càng cần giữ lại phần cảm xúc và bản sắc không thể nhân bản: ký ức dân tộc và giá trị nhân văn.

Một người nghệ sĩ hành xử đẹp, làm nghề tử tế, chính là lan tỏa giá trị văn hóa, bằng cả tài năng và nhân cách. Trần Việt Hoàng từng nói: “Yêu nước có thể bắt đầu từ một câu chữ nhỏ”. Câu ấy lặng như một hơi thở, nhưng mang sức nặng của một thế hệ. Vì nghệ sĩ hôm nay không nhất thiết phải viết về chiến tranh, cũng không cần mang lấy những sứ mệnh lớn lao. Nhưng họ không được quên rằng: mỗi lần sáng tác là một lần họ chọn nói điều gì đó với đất nước, với nhân dân.

Trong ngày kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9, khi quốc kỳ được kéo lên, bài Tiến quân ca âm vang hào hùng, có lẽ chúng ta nên dành một khoảng lặng cho những người đang giữ lại phần tinh túy nhất của tâm hồn dân tộc, bằng nghệ thuật, bằng lòng tin và bằng chính cuộc sống của mình.

Xem thêm