Tôi đã đến vùng đất này nhiều lần và từng thức thâu đêm với già làng người Chu Ru Ya Tuân, nghe ông kể: Ngày xưa, gốm Krăng Gọ nổi tiếng khắp vùng. Mùa nông nhàn, tất cả các gia đình trong buôn đều nổi lửa nung gốm. Phụ nữ đến núi T'rôm Ụ chọn đất tốt, đàn ông gùi đất về buôn. Krăng Gọ rộn rã từ buổi tinh sương đến tận khi mặt trời gác núi để có cái blo nấu bồ kết cho phụ nữ gội đầu, có krơlồm dùng để làm bát ăn cơm, rồi gọavú cho phụ nữ xuống sông lấy nước... Giờ thì hình ảnh đó đã vào quá vãng, khi đồ gia dụng tiện lợi quá phổ biến. Song, trước nguy cơ mai một nghề thủ công truyền thống, nhiều nghệ nhân ở Krăng Gọ vẫn “nuôi lửa” nung gốm và truyền dạy cho thế hệ trẻ.
Trò chuyện với những người già vùng đồng bào dân tộc Chu Ru sinh sống, được biết “Krăng” là tên ông chủ làng ngày xưa khai sinh ra vùng đất, còn “gọ” theo tiếng cư dân bản địa là chỉ nghề làm nồi đất. “Ngày xưa, mùa nông nhàn, Krăng Gọ rộn ràng cả buôn, nhà nhà làm nồi đất. Giờ chỉ còn vài nhà đỏ lửa đốt gốm”, nghệ nhân Ma Ly chia sẻ.
Chiều loang nắng, gió phía thượng nguồn thổi về thung lũng, bếp lửa nung gốm của bà Ma Ly rực hồng. Bà Ma Ly kể, đất làm gốm chỉ lấy ở núi T’rôm Ụ. Trước khi lấy đất nguyên liệu, phải làm lễ cúng chủ làng, Yàng Ụ (thần đất) thì mới làm được. Việc lấy đất chỉ được thực hiện khi cảm thấy trong người sạch sẽ, tâm hồn thảnh thơi, nếu không, các sản phẩm gốm sẽ không được như ý. Người Chu Ru ở làng Krăng Gọ làm gốm không có khuôn và bàn xoay, cho nên sản phẩm làm ra “độc bản”, mỗi cái đều có nét riêng, không cái nào giống cái nào.
Tây Nguyên vào mùa khô, sau khi các công việc đồng áng đã xong, đồng bào Chu Ru ở Krăng Gọ bắt đầu làm gốm để tạo các sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày. Để tạo ra sản phẩm gốm thường phải trải qua nhiều công đoạn khá công phu, bắt đầu từ việc lấy đất, sau đó phơi, giã, sàng, nhào đến làm gốm mộc, phơi khô và đem nung. Cách làm gốm ở Krăng Gọ hoàn toàn thủ công và nung gốm lộ thiên, cũng chẳng có bàn xoay mà được nặn bằng tay và di chuyển chung quanh vật để tạo dáng.
Cách làm gốm “nguyên thủy” này đã tạo nên vẻ đẹp “nguyên bản” nghề truyền thống cổ sơ của loài người. Nghệ nhân Ma Bi, chị gái bà Ma Ly chia sẻ: “Nghề gốm của người Chu Ru có nét riêng, đối với những sản phẩm gốm lớn phải tạo hình ra hai phần trên, dưới riêng biệt, sau đó ghép lại với nhau. Với các sản phẩm nhỏ thì được nặn nguyên dáng”.
Sau khi tạo hình, các sản phẩm gốm được mang phơi cho đến săn khô và được tái sửa lần cuối trước khi nung. Thông thường, gốm thô được nung khoảng hai giờ, sau đó ủ tro thêm từ 1 đến 2 giờ để tăng độ bền sản phẩm. Gốm sau khi nung đủ độ thường có sắc đỏ tươi, gõ vào có tiếng vang rất thanh. Nghệ nhân Ưu tú Ma Bio lý giải: “Có lẽ, nhờ chất đất ở T’rôm Ụ, với những hạt li ti óng ánh mầu kim loại cho nên sản phẩm gốm của Krăng Gọ có tiếng vang khác biệt và ít nứt, vỡ”.
Đất, nước và bàn tay khéo léo của nghệ nhân Chu Ru đã tạo nên sản phẩm chum, ché, bình, ly, lu… và nhất là nồi. Gốm Krăng Gọ đơn giản, nhưng là nơi ẩn chứa những bí ẩn của dòng chảy văn hóa. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quảng Lập Nguyễn Đình Tịnh cho biết, những kiến thức về gốm Krăng Gọ đã được lồng ghép vào những tiết học lịch sử của học sinh địa phương, giúp các em có thêm trải nghiệm, hiểu biết và ý thức trong bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Năm 2024, ngành văn hóa tỉnh phối hợp địa phương tổ chức lớp truyền dạy làm gốm tại Krăng Gọ, thu hút hàng chục người tham gia, qua đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghề gốm của người Chu Ru.