Bản lĩnh nước Nam vươn mình hội nhập

Bản lĩnh nước Nam vươn mình hội nhập

Trong buổi giao thời đầu thế kỷ XX, khi trật tự cũ sụp đổ mà con đường mới chưa hình thành rõ ràng, nhiều bậc trí giả nước Nam đã cùng chung một thao thức: Dân tộc này phải dựa vào đâu để tồn tại và vươn lên? Câu trả lời trước hết ở con người, ở quốc hồn, ở sĩ khí và ý thức dân tộc.

Sự tự phụ, sĩ khí và ái quần quý báu

Ngay từ những năm đầu thế kỷ, nhà chí sĩ Phan Châu Trinh đã đặt nền móng cho tư tưởng canh tân bằng việc kêu gọi “tự lực khai hóa”, coi việc làm mới con người là điều kiện tiên quyết để làm mới dân tộc. Ông không chỉ thức tỉnh dân trí, mà còn đánh thức lòng tự trọng và tinh thần học hỏi của mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc: “Hỡi những người liêm sỉ, công trung/Thương nhau mà bảo nhau cùng/ Học khôn học khéo để phòng hậu lai”.

trinh21.jpg
Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh.

Tinh thần ấy được Phan Châu Trinh đẩy đến tận cùng của sự khiêm nhường và trách nhiệm, khi ông sẵn sàng hạ mình để học và để sống vì sự sinh tồn của giống nòi: “Công việc ngày nay, ai có thể dạy ta, thì ta xin làm trò; ai có thể nuôi ta thì ta xin làm con; nhờ ơn dạy dỗ nuôi nấng, dìu dắt, ôm ấp lấy nhau, mong cho giống nòi còn sinh tồn ở trên mặt địa cầu này mà thôi”.

Đầu thập niên 1920, khi phong trào báo chí phát triển mạnh, tư tưởng đánh thức quốc hồn được tiếp nối bằng việc nhấn mạnh lịch sử như nền tảng hình thành ý thức nghĩa vụ và lòng tự trọng dân tộc. Trên Công luận báo, năm 1922, trong bài viết “Người An Nam phải biết lịch sử An Nam”, các trí giả đã khẳng định rằng, không thể nói đến tương lai nếu không hiểu quá khứ: “Ta có biết nước ta sống bao nhiêu lâu, từ bao nhiêu lâu, hưng phế thế nào, công trình ông cha tiên tổ gầy dựng cho ta cái giang san cẩm tú này khó nhọc dường bao, thời ta mới có được cái tình cảm về nghĩa vụ rõ ràng: Nghĩa vụ ấy người trước ta đã làm xong, ta sau này phải cũng làm cho xong, nghĩa vụ ấy tức là bổn phận làm con trai Nam Việt, làm việc cho xã hội tân hóa, cho giống nòi sanh tồn”.

Từ việc biết sử, người An Nam mới có thể hình thành một thứ “tự phụ quý báu”, không phải để khinh người, mà để đứng vững giữa thiên hạ: “Ta có thuộc sử nước ta, thời ta mới hay có một cái tự phụ quý báu nó làm cho ta trỗi chí, bước tới với người, cái tự phụ ấy có thể gồm trong mấy câu này: Ta là người An Nam! Giống ta không phải hèn!... Ta quyết noi gương ông cha mà làm cho tiếng tăm Nam Việt lừng lẫy ở thời này và muôn năm về sau” (Công luận báo, ngày 11/7/1922).

Đến năm 1927, khi nhìn lại chiều dài lịch sử dân tộc, các ký giả đương thời trong bài viết “Sĩ khí nước ta” tiếp tục đào sâu vào một khái niệm cốt lõi hơn nữa: Sĩ khí, coi đó là yếu tố quyết định giúp dân tộc Việt Nam tồn tại qua những thời kỳ đen tối nhất: “Thời kỳ Bắc thuộc lại là thời kỳ khá lâu, nhưng xét rằng dân ta ít, đất ta hẹp… mà dân ta không tiêu diệt cho đất ta vẫn còn, hẳn rằng cái sĩ khí của ta cũng cao…”. Tác giả nhấn mạnh rằng, chính sĩ khí đã nuôi dưỡng nhân tính và quốc hồn của dân tộc: “Than ôi! Sĩ khí ta hay, chớ bảo rằng dân khí ta kém, quốc hồn hãy còn, đố giống nào dám bảo dân tâm ta không có nhân tính: nhân tính ta cao là nhờ sĩ khí ta hay”.

Song song với lời kêu gọi học hỏi, Phan Châu Trinh cũng khơi dậy niềm tin vào tiềm lực nội sinh của dân tộc Việt Nam, coi đó là điểm tựa tinh thần để vượt qua nỗi nhục mất nước. Trong “Tỉnh quốc hồn ca”, ông viết: “Hơn hai mươi triệu dân vàng/Ông cha nảy nở, họ hàng đúc đông/Thiệt là giống hào hùng khí phách/Nảy lắm tài luyện thạch bổ thiên/Nâng vạc ngã, chống nhà nghiêng/ Oai danh lừng lẫy ghi truyền sử xanh”.

Và đỉnh cao của sĩ khí Việt Nam được xác định là tinh thần “ái quần”: “Trải qua bốn ngàn năm, cái sĩ khí của ta cao đến chỗ cực điểm là tấm lòng ái quần: ừ, dân ta có ái quần thì mới còn giữ được tính chất riêng của giống ta. Vậy thì cái nghĩa ái quần của ta trước kia đẹp đẽ biết nhường nào! Vì có cái đức ái quần đó mà sinh ra được nhiều tính nết có trong tấm lòng quốc dân không?” (Công luận báo, số 757, ngày 25/10/1927). Đến cuối thập niên 1930, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước ngày càng căng thẳng, tư tưởng quốc hồn - sĩ khí được đẩy lên thành yêu cầu hành động chính trị rõ rệt. Trên Tràng An báo năm 1939, vấn đề quốc quyền được đặt ra một cách trực diện: “Trông thấy hiện tình nguy ngập ở xứ ta, mà ngậm ngùi liền nghĩ đến tiền đồ, vận mệnh của quốc gia Đại Việt! Chúng ta là một dân tộc bị bảo hộ! Nước ta lại là một nước bị hạn chế quốc quyền”. Từ đó, mục tiêu được xác định phải: “Khôi phục quốc quyền, chấn hưng quốc thể, đó có lẽ cái khẩu hiệu duy nhất và thiêng liêng của các nhà chí sĩ có nghĩa khí, các tay chính trị có lương tâm, hơn nữa, cả hai mươi lăm triệu đồng bào nước Việt” (Tràng An báo, ngày 3/3/1939).

Khơi dậy bản lĩnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Bước vào kỷ nguyên mới, dân tộc Việt Nam không còn đứng trước câu hỏi sinh tồn theo nghĩa tồn vong, mà đối diện với một thách thức phức hợp hơn: Tồn tại như thế nào để không tụt hậu, vươn lên ra sao để không đánh mất mình. Chuyển đổi số làm thay đổi tận gốc phương thức sản xuất, quản trị và giao tiếp xã hội; toàn cầu hóa mở ra không gian phát triển chưa từng có, đồng thời đặt mỗi quốc gia trước sức ép cạnh tranh gay gắt; kinh tế thị trường thúc đẩy sáng tạo và năng động. Trong bối cảnh ấy, tinh thần, bản lĩnh và ý chí người Việt Nam không còn là khái niệm trừu tượng, mà trở thành năng lực thực tiễn quyết định vị thế quốc gia.

ban-linh-nuoc-nam-02.jpg
Gian hàng của các bạn trẻ Việt Nam tại Ngày hội tình nguyện viên ASEAN lần thứ I, tháng 8/2025. (Ảnh: NGÔ TÙNG)

Trong bài viết “Tương lai cho thế hệ vươn mình”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Để hướng tới năm 2045 với tầm nhìn về một Việt Nam phát triển toàn diện, việc định hướng phát triển con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành ưu tiên chiến lược”; “Mục tiêu là xây dựng con người Việt Nam giàu bản sắc dân tộc: Yêu nước, nhân ái, sáng tạo, hội nhập mà không hòa tan”.

Từng lọt vào danh sách Under 30 Forbes Việt Nam 2022, theo TS Trần Công Minh (Đại học Oxford, Vương quốc Anh), thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở khoảng cách công nghệ hay trình độ phát triển, mà ở việc chúng ta có đủ tự tin và bản lĩnh để định vị mình trong dòng chảy chung của nhân loại hay không. Theo ông, thế hệ trẻ Việt Nam đang đứng trước một cơ hội hiếm có để bứt phá, nhưng cơ hội ấy chỉ trở thành hiện thực nếu đi kèm với một nền tảng tinh thần vững chắc.

co-mot-cuoc2.jpg
Khối đội hình Quân đội nhân dân Việt Nam diễu binh tại Quảng trường Đỏ.

Theo TS Trần Lê Hưng, giảng viên Trường Kỹ sư Paris, Đại học Gustave Eiffel (Pháp), trong bối cảnh mới, bên cạnh các điều kiện về thể chế, nguồn lực và công nghệ, điều không thể thiếu - thậm chí có ý nghĩa quyết định chính là việc khơi dậy và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần, bản lĩnh và ý chí dân tộc. Ông cho rằng mọi bước tiến bền vững của một quốc gia đều bắt đầu từ niềm tin của con người vào giá trị của chính mình và vào tương lai chung của dân tộc.

cam-do-gradient-xanh-duong-don-gian-ruc-ro-thong-bao-ngay-le-viet-nam-3004-instagram-post-1.png
Người dân theo dõi Lễ Kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm. (Ảnh: TTXVN)

Ý chí giống nòi còn thể hiện ở khả năng gắn kết lợi ích cá nhân với vận mệnh chung. Và giữa không gian giao thoa mạnh mẽ của các hệ giá trị, bản lĩnh người Việt Nam còn nằm ở khả năng tự ý thức về bản sắc trong thời đại mới và năng lực biến những giá trị bền vững thành sức mạnh tinh thần, thành chuẩn mực hành xử, thành động lực sáng tạo trong đời sống hiện đại.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phải được kiến tạo bằng một quá trình chấn hưng bền bỉ từ con người. Khi tinh thần tự cường, bản lĩnh cạnh tranh và ý chí đoàn kết cộng đồng được lan tỏa, dân tộc Việt Nam sẽ không chỉ theo kịp những chuyển động của thời đại, mà còn đủ tự tin để định hình con đường phát triển của chính mình vững vàng, chủ động và có bản sắc.

Xem thêm