12/02/2026 - 09:25

Về xưa cùng tuấn mã

Về xưa cùng tuấn mã

Trong lịch sử dân tộc, hình tượng ngựa được tôn vinh gắn với sự vững bền của xã tắc qua ngựa đá trong thơ của Vua Trần Nhân Tông, bài “Tức sự”: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Nhà sử học Trần Trọng Kim dịch: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng”.

Ngựa và xã tắc Tranh dân gian ngựa trắng (giấy). K hông phải ngẫu nhiên mà Vua Trần đã có được đôi câu thơ trác tuyệt đề cao hình tượng con ngựa với Kim âu (biểu tượng cho sự vững bền của xã tắc). Đó là vào ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (tức 18/4/1288), cách đây hơn 700 năm, quân dân Đại Việt vừa đại thắng quân Nguyên Mông ở sông Bạch Đằng, Trần Nhân Tông dẫn triều đình về Chiêu Lăng (lăng của Hoàng đế đầu triều Trần Thái Tông, nay ở xã Hưng Hà, tỉnh Hưng Yên) để kính cáo thành tích trước tổ tiên. Chợt thấy mấy con ngựa đá lấm bùn đứng trước lăng mà vua Trần cảm thán: Qua mấy phen binh lửa, giặc đã từng tràn đến đây đào phá lăng mà chưa phá kịp, chỉ làm cho mấy pho tượng ngựa vấy bùn mà lăng vẫn còn. Ngựa đá vẫn đứng vững dẫu có chồn chân, giống như hình ảnh quân dân Đại Việt gian lao trong cuộc chiến chống ngoại xâm nhưng cuối cùng vẫn bảo vệ được lăng vua như âu vàng muôn thuở (Viện Văn học (1988), Thơ văn Lý-Trần, tập II quyển thượng. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 483). Thời Lý bắt đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ sau “đêm dài Bắc thuộc”. Tuy nhiên, nhà Lý liên tục phải đương đầu với các thế lực ngoại bang xâm lược. Những đoàn binh mã kéo đến Đại Việt thua trận đã bị thu rất nhiều ngựa. Thư tịch ghi lại: Năm 1012, Vua Lý Công Uẩn đã đặt tên một con ngựa của mình là Bạch Long Thần Mã vì mỗi khi vua sắp đi thì nó tất hí lên trước… Thời Trần, kỵ binh cũng là một đội quân mạnh mẽ bên cạnh bộ binh và thủy binh, cùng sát cánh chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông. Đến thời Lê, vai trò của kỵ binh lại càng quan trọng. Trong tác phẩm “Lam Sơn thực lục” có nói đến nhiều câu chuyện liên quan đến ngựa: Chuyện Lê Lai cưỡi ngựa phi vào trận giặc để cứu chúa, chuyện ở núi Chí Linh, quân thiếu lương thực, Lê Lợi giết cả ngựa của mình đang cưỡi để cho quân lính ăn. Trong nhiều trận đánh, quân đội cũng thu được nhiều ngựa của giặc: Đánh tan đội quân Vương Thông 5 vạn quân, 5.000 ngựa, bắt hơn 500 ngựa ở trận ải Pha Lũy. Trận Chi Lăng, quân ta đánh tan hơn 10 vạn quân, thu nhiều ngựa không kể xiết và chém đầu tướng giặc Liễu Thăng. Ngựa đẹp cùng mỹ thuật Việt T ượng ngựa đầu tiên được biết tới trong nghệ thuật tạo hình là pho tượng ngựa bằng đá ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh, chùa được dựng năm 1057), mắt nổi, mõm dài, bờm, đuôi dài, nằm trên bệ đá có hoa văn cánh sen. Xem ra hình ảnh con ngựa có duyên với ngôi chùa thời Lý này là sản phẩm giao lưu văn hóa giữa Đại Việt và Chăm Pa khi đó. Hình ảnh con ngựa đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Đến thời Trần, hình ảnh ngựa lại được trang trí trên thạp gốm hoa nâu. Gu thẩm mỹ khi đó là trang trí trên loại thạp có men mầu nâu với các loại cỏ cây và hình người cầm giáo, voi trận, chim… Quan sát thực tế cho thấy, ngựa được vẽ bằng tay với nét vẽ phóng khoáng trên băng trang trí chủ đạo giữa thân thạp. Trên lưng một con ngựa có người ngồi xổm dang tay… Người nghệ sĩ đã dùng bút khắc chìm lên lớp men trắng phủ ngoài rồi lại phủ thêm một lớp men nâu nữa để tô điểm các đường viền mạnh mẽ của cơ thể người và ngựa. Thạp gốm hoa nâu trang trí hình ngựa. Thời Lê, nhất là thời Lê Trung Hưng, hình tượng ngựa phổ biến hơn, đa dạng và nhiều dòng hơn. Tượng ngựa bằng đá được trau chuốt thường gặp ở các lăng mộ quận công. Hai bên trục đường thần đạo vào lăng có 2 khối tượng đối xứng nhau, mô tả quan hầu cầm cương dắt ngựa, kích thước gần bằng người, ngựa thật. Có lẽ đôi ngựa đá đẹp nhất thuộc về lăng Dinh Hương tại Bắc Ninh hiện nay được tạc năm 1729. Hình tượng ngựa còn đọng lại trên một loại hiện vật quý của thời Lê-Mạc. Đó là những chiếc chân đèn hay lư hương bằng gốm. Cặp chân đèn gốm hoa lam được sản xuất năm 1587 đời Mạc Mậu Hợp, cao 76 cm. Bên cạnh hoa văn phượng, mây, lá đề, rồng mây, cánh sen, còn có hình một con Long Mã có thân và bốn vó là hình tượng ngựa, nhưng được chắp đầu rồng với miệng và mào rõ nét. Cũng trong thời Mạc, một chiếc lư hương được ông Đỗ Xuân Vi, người xã Bát Tràng làm ngày 20 tháng tám năm Hưng Trị thứ ba (1590) theo như dòng chữ còn khắc trước khi nung. Lư hương cao 40 cm có hoa văn rồng, hoa 12 cánh, kỳ lân và cả ngựa có cánh. Men vẽ có mầu xanh lam, men phủ mầu trắng xám. Ngựa được tô men mầu nâu nổi bật trên đám mây mầu xanh. Mô-típ ngựa có cánh lại còn được thấy ở trên viên gạch ở thời này ở chùa Trăm Gian nữa. Theo các nguồn tư liệu, thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17 là thời mà điêu khắc đình làng nở rộ. Các mảng chạm đẹp, đầy sức sống đã là tấm gương phản chiếu xã hội đương thời. Hình ảnh ngựa trở nên sống động hơn. Mảng chạm gỗ ở hương án chùa Bút Tháp tả ngựa có cánh đang phi nước đại. Hình tượng ngựa đang phi còn thấy ở bia đá ở chùa Linh Quang, Hải Phòng, niên đại 1719. Muộn hơn nữa, hình tượng ngựa còn được chạm khắc trên ván in bằng gỗ ở chùa Tây Mỗ (Hà Nội) trong cảnh khỉ đang cưỡi ngựa, ngựa đang bay trên mây. Một tượng ngựa bằng đá có mặt trong đình Hoàng Mai (Hà Nội) được làm từ thế kỷ 18 được đặt ở giữa sân đình tăng thêm vẻ uy nghiêm. Một số ngôi đình còn có tượng ngựa gỗ là đồ thờ đặt trên xe đẩy có 4 bánh. Một số tượng được đúc bằng đồng thau như tượng Long Mã đang chở hòm sách bản đồ, miệng ngậm viên ngọc, tượng võ quan đang cưỡi ngựa. Hoa văn Long Mã còn được khắc trên trống đồng Cảnh Thịnh thời Tây Sơn. Tượng quan hầu giữ ngựa ở lăng Dinh Hương (chất liệu dó). Hình tượng ngựa còn có ở các dòng tranh dân gian. Khi thì cảnh chuột cưỡi ngựa trong tranh “Đám cưới chuột”; khi thì cảnh ông hoàng cưỡi ngựa trong tranh Hàng Trống; khi là cặp ngựa hồng, ngựa bạch trên tranh thờ trong đền Độc Lôi, Nghệ An. Theo thời gian, hình ảnh con ngựa đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, được tôn làm thần (thần Bạch Mã), được coi là biểu tượng của tia sáng, vì sự nhanh nhẹn, hóa thân thành con vật cõng mặt trời chuyển động… Truyền thuyết xưa kể chuyện Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân rồi bay về trời, đến hôm nay vẫn truyền tải khát vọng hòa bình của dân tộc.