Rừng đước ở vùng ven biển các xã khu vực Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau) như “lá chắn mềm” bảo vệ vững chắc tuyến đê phòng hộ của tỉnh.
Rừng đước ở vùng ven biển các xã khu vực Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau) như “lá chắn mềm” bảo vệ vững chắc tuyến đê phòng hộ của tỉnh.

Hiệu quả trồng rừng phòng hộ ven biển

Tuyến đê ven biển khu vực Bạc Liêu trước đây (nay thuộc tỉnh Cà Mau) có chiều dài gần 56 km, từ phường Hiệp Thành đến xã Gành Hào, với gần 9.000 ha rừng phòng hộ, được xem như “lá chắn mềm” ngăn cản sóng và nước biển dâng, góp phần bảo vệ môi trường và cuộc sống bình yên của cư dân nơi đây.

Hiệu quả cao về nhiều mặt

Những ngày đầu năm 2026, chúng tôi trở lại vùng ven biển phường Hiệp Thành và các xã như Vĩnh Hậu, Long Điền, Đông Hải, Gành Hào. Trên tuyến đê phòng hộ ven biển dài gần 60 km được Trung ương đầu tư mở rộng, nâng cấp, các đơn vị đang khẩn trương thi công đoạn còn lại.

Ngồi trên xe phóng tầm mắt qua khu rừng phòng hộ về phía biển, chúng tôi ghi nhận những cánh rừng đước, rừng mắm xanh ngút ngàn, rất hiệu quả trong việc chắn sóng, gió biển, chống xói lở, bảo vệ tuyến đê biển và các làng quê, công trình trọng điểm vùng ven biển.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu Trần Hoàng Khải cho biết: Sau khi tiến hành việc sáp nhập ba xã là Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A và Vĩnh Thịnh, hiện nay xã Vĩnh Hậu mới có tổng diện tích rừng phòng hộ ven biển hơn 3.000 ha.

Theo đó, từ chân đê đến khu vực sóng biển là dải rừng đước và mắm dài hơn 1 km. Nhờ hệ thống rừng phòng hộ này, sóng biển khó xâm nhập sâu vào khu vực dân cư. Đáng chú ý, tuyến đê biển đi qua địa bàn xã Vĩnh Hậu đến cửa biển xã Gành Hào nhiều năm nay luôn được bảo vệ khá tốt.

Theo nhiều người dân, cũng nhờ những cánh rừng đước, rừng mắm được trồng và bảo vệ, chăm sóc khá tốt đã góp phần bảo vệ tuyến đê biển không bị triều cường, sóng biển “đánh” vỡ nghiêm trọng như một vài nơi khác thường xảy ra.

Cụ thể, đoạn đê phòng hộ ven biển thuộc khu vực phường Hiệp Thành (trước thuộc xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu cũ) do không có rừng phòng hộ ven biển cho nên nhiều năm qua, nhất là những tháng mùa gió chướng (từ tháng 11 âm lịch đến đầu mùa mưa) năm nào cũng xảy ra vài trận triều cường, sóng biển dâng cao làm vỡ đê phòng hộ nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, sinh hoạt, đi lại của nhân dân.

Song, tại khu vực các xã như Vĩnh Hậu, Long Điền và Đông Hải, do có diện tích rừng phòng hộ ven biển khá tốt cho nên hàng chục năm nay không xảy ra vụ vỡ đê nào. Thực tế chứng minh, rừng phòng hộ ven biển có tác dụng rất tốt trong việc bảo vệ vững chắc những cánh đồng tôm công nghệ cao, những công trình trọng điểm và cuộc sống bình yên của người dân.

Nhân dân đồng tình ủng hộ

Rừng phòng hộ ven biển được ví như “bức tường xanh” vững chắc, không chỉ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đối phó thiên tai, bảo vệ sản xuất mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, là giải pháp lâu dài trong ứng phó và thích ứng biến đổi khí hậu.

Bảo vệ rừng không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền, mà còn cần sự chung tay của cộng đồng. Việc chính quyền tìm mọi cách hỗ trợ các hộ dân làm ăn, sống dựa vào đất rừng chính là “chìa khóa vàng” để giữ rừng, đồng thời giúp người dân sản xuất nuôi tôm, cua dưới những tán rừng hiệu quả bền vững.

“Ðược Nhà nước giao khoán đất rừng để canh tác là điều rất tốt đối với nông dân tụi tôi. Nhờ con tôm, con cua, con cá tự nhiên trong rừng mà cuộc sống của nhiều hộ gia đình ổn định, vững chắc hơn. Vì vậy, người dân ở đây đều mong muốn gắn bó lâu dài với rừng, có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng phòng hộ”, ông Vũ Ðức Trung, ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hậu chia sẻ.

Còn ông Nguyễn Thanh Hiền, ngụ ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Hậu cho biết, thời gian qua, chính quyền xã phối hợp các ngành chức năng tỉnh triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển mô hình tôm rừng.

Trong đó, ngành nông nghiệp đã thử nghiệm các mô hình mới như dưỡng tôm giống trong ao lót bạt từ 20 ngày đến 1 tháng trước khi thả ra diện tích mặt nước dưới những tán rừng.

“Nhiều hộ nông dân tụi tôi thực hiện nuôi tôm, cua dưới tán rừng; áp dụng kỹ thuật nuôi kết hợp khôi phục rừng ngập mặn với khai thác tài nguyên bền vững; nuôi tôm theo công nghệ cho các hộ nhận khoán rừng. Cách làm này đem lại hiệu quả cao, rừng phòng hộ ven biển được bảo vệ tốt, Nhà nước, nhân dân đều có lợi”, ông Hiền nói.

Theo nhiều hộ dân, việc những năm qua chính quyền địa phương triển khai chính sách giao khoán đất rừng cho người dân quản lý, khai thác dưới sự giám sát của Nhà nước là cách làm đúng đắn, mang lại hiệu quả về nhiều mặt.

Kết quả là diện tích rừng được bảo vệ, chăm sóc tốt hơn, cây rừng phát triển ổn định, người dân có điều kiện gắn bó lâu dài với rừng thông qua các mô hình sản xuất phù hợp, điển hình là mô hình tôm-cua-rừng.

Dưới tán rừng, hệ sinh thái được cân bằng, nguồn nước được cải thiện tạo môi trường thuận lợi cho tôm, cua sinh trưởng, phát triển. Nhờ đó, người dân giảm rủi ro trong sản xuất, đồng thời có thêm nguồn thu từ thủy sản tự nhiên.

“Việc trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển là vô cùng cần thiết, bởi rừng phòng hộ như “lá chắn mềm” rất hiệu quả trong việc giảm nhẹ thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Vì vậy, các dự án trồng rừng ngập mặn ven biển góp phần bảo vệ môi trường và tạo thêm sinh kế cho người dân trong nhiều năm qua rất được địa phương quan tâm, thực hiện đạt kết quả tốt”, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau Phạm Văn Thiều khẳng định.

Xem thêm