Từ ước vọng vươn dần ra thế giới
Ngay những năm đầu của thời kỳ Đổi mới, khi nhận nhiệm vụ tham gia “thiết kế” các dự án luật rất mới thời điểm đó như: Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân rồi Luật Doanh nghiệp, chúng tôi đã ôm ấp kỳ vọng có một ngày doanh nghiệp Việt Nam có thể tự tin vững bước ra thị trường quốc tế. Và đến hôm nay, khi trở lại với câu chuyện tinh thần, sức sống Việt của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, tôi vẫn muốn nhắc lại những suy nghĩ và kỳ vọng khi đó: “Muốn phát triển, muốn chứng minh năng lực, các doanh nghiệp Việt Nam phải bước ra thị trường toàn cầu, phải sống được, cạnh tranh được, duy trì được ở thị trường toàn cầu!”.
Đây cũng là điều chúng tôi hướng tới ngay từ khi mò mẫm tìm hiểu pháp luật về doanh nghiệp của một số nền kinh tế để bắt tay vào thiết kế các văn bản luật đầu tiên về kinh doanh. Trong các cuộc thảo luận để tìm kiếm những kinh nghiệm thực tế tốt, kinh nghiệm của Nhật Bản và nhất là của Hàn Quốc được nghiên cứu rất kỹ. Câu hỏi được đặt ra đầu tiên là, tại sao Hàn Quốc chỉ mất khoảng 20 năm (1960- 1980), để từ một quốc gia trong nhóm nghèo nhất thế giới (quy mô GDP năm 1960 chỉ có 3,957 tỷ USD) trở thành nền kinh tế có quy mô 100 tỷ USD (năm 1985)?
Chúng tôi đã nghĩ, nền kinh tế muốn phát triển được, thì bên cạnh số lượng đông đảo các doanh nghiệp nhỏ, cần có các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp hoạt động toàn cầu, cạnh tranh được trên thị trường toàn cầu, và có thể trở thành tập đoàn đa quốc gia… Đến bây giờ, VinFast cùng nhiều doanh nghiệp khác như TH True Milk, Thaco, các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành thủy sản, nông sản... không chỉ bước ra thị trường toàn cầu, mà còn ở thị trường đẳng cấp cao nhất, với những chuẩn mực cao nhất.
Trong đó, VinFast được coi là một hiện tượng lạ, khác với cách tư duy truyền thống. Cách đi ra thị trường toàn cầu như VinFast đang làm khó hơn rất nhiều so với thời các doanh nghiệp Hàn Quốc hay Nhật Bản vào những năm 1960.
Đồng hành cùng các doanh nghiệp, tôi tin, những bước đi chập chững của Vingroup ở những ngày khởi công Dự án Tổ hợp sản xuất ô-tô tại Khu kinh tế Đình Vũ (Hải Phòng) năm 2017, sẽ là những bước dài bồi đắp tự tin để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục với khát vọng vươn tầm thế giới, để được tiếp cận và tuân thủ các chuẩn mực cao nhất, những ràng buộc khắt khe nhất.
Khi “xin được là có lợi”, thì ai chẳng muốn “xin-cho”?
Dẫu so với thời doanh nghiệp chỉ được làm những gì Nhà nước cho phép, kể cả may quần áo, bán phở, thậm chí mở cửa hàng đánh máy chữ cũng phải xin phép, tới giờ không gian cho doanh nghiệp đã rộng lớn hơn khi được làm những gì pháp luật không cấm. Khi đó, không khí đổi mới rất mạnh mẽ, tràn ngập khắp nơi. Sự thành công trong thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999 có công lớn từ sự hào hứng của người dân và doanh nghiệp.
Nhìn lại, các doanh nghiệp, thương hiệu lớn của Việt Nam bây giờ hầu hết khởi nghiệp từ Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp 1999. Giai đoạn 2000-2005, tăng trưởng công nghiệp của khu vực tư nhân khoảng 20-23%, cao hơn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Ngay sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, thì cuộc khủng hoảng 2008-2011 bùng lên, doanh nghiệp Việt Nam cũng vì thế mà dần yếu đi nhiều, nhiều doanh nghiệp mất đi gần như toàn bộ thành quả của giai đoạn trước đó. Nhiều thương hiệu Việt cũng biến mất vào giai đoạn này.
Tiếp đó là một thập kỷ mất mát, cả về sức lực, tinh thần, và về hình ảnh của cộng đồng kinh doanh ở Việt Nam. Đặc biệt, tình trạng doanh nghiệp “sân trước, sân sau” gia tăng đã làm thị trường méo mó đi. Vụ Công ty Việt Á với những con số hoa hồng kinh khủng dành cho quan chức nhiều địa phương được phát lộ dần là sản phẩm của sự méo mó này. Đây chỉ là một vụ điển hình, đã được đưa ra ánh sáng.
Với các doanh nghiệp mới, thiếu bản lĩnh, thiếu thị trường, sẽ sa vào ngay những lợi ích trước mắt và phải trả giá.
_________
TS Nguyễn Đình Cung
Thực tế, các doanh nghiệp không phải không có năng lực, nhưng họ đã chọn sai cách là dựa vào quyền lực để đi. Có người nói, họ không đủ lực để đi riêng nên đành phải chấp nhận trở thành “sân sau”. Có nhiều người không chọn. Cũng phải rất bản lĩnh, rất năng lực mới không chọn, nhưng bản lĩnh không có ngay từ đầu, phải có tích lũy. Với các doanh nghiệp mới, thiếu bản lĩnh, thiếu thị trường, sẽ sa vào ngay những lợi ích trước mắt và phải trả giá.
Hay trường hợp của nhà khởi nghiệp Nguyễn Hà Đông, “cha đẻ” của Flappy Bird đã chọn con đường ra nước ngoài thay vì tiếp tục kiên trì ở trong nước. Giá như khi đó, chúng ta có được tư duy quản lý mới hơn, có sự đồng hành và kiến tạo bệ đỡ cho các nhà khởi nghiệp sáng tạo, thì không chỉ Nguyễn Hà Đông, mà nhiều người ôm ấp ý tưởng sáng tạo, ước mơ khởi nghiệp sẽ xuất hiện, lớn lên ngay ở Việt Nam, thay vì phải chọn con đường khởi nghiệp ở Mỹ hay Singapore.
Đó là một thực tế phũ phàng, khi “ai xin được là có lợi”, thì ai chẳng muốn “xin - cho”?
Tự tin khẳng định vị thế và khát vọng Việt Nam
Nhìn lại cả 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, chúng ta sẽ lý giải được thực tế phũ phàng đó. Cần phải thẳng thắn, ở Việt Nam để một startup đi từ ý tưởng lên thành “kỳ lân”, để các doanh nghiệp nhỏ dần thành doanh nghiệp vừa, rồi doanh nghiệp lớn… không hề dễ dàng. Và thế là một đội ngũ startup ở Việt Nam rất đông đảo, giàu ý tưởng, nhưng phần nhiều phải dịch chuyển sang các thị trường khác… để phát triển.
Thực tế minh chứng, cộng đồng doanh nghiệp luôn sống động, tràn trề sinh lực và tinh thần khởi nghiệp làm giàu, nhưng có vẻ như đã chạm “đến ngưỡng của một giai đoạn phát triển”, nên chưa tìm được đường bứt lên. Và những doanh nhân như bà Thái Hương (Nhà sáng lập Tập đoàn TH), ông Phạm Nhật Vượng (Chủ tịch Vingroup), bà Mai Kiều Liên (CEO Vinamilk) hay ông Trần Bá Dương (Chủ tịch Thaco Group)... đã vượt qua ngưỡng đó, vì họ luôn trăn trở, tìm cách đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất, đưa được thương hiệu Việt Nam ra thế giới, lên những tầng mới về chất.
Thế giới đang bước vào giai đoạn dịch chuyển mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam cũng đang nỗ lực tìm kiếm những động lực mới, kỳ vọng chinh phục những mục tiêu mới. Tất nhiên, chúng ta cần thúc đẩy nền tảng công nghiệp. Các doanh nghiệp lớn như Viettel, VNPT đang cố gắng thay đổi, vươn lên, đi vào sản xuất, nghiên cứu và phát triển công nghệ, có thể cùng với FPT, Vingroup... để đưa công nghệ ra thế giới, để cạnh tranh, để bán hàng và để học hỏi, tiếp cận các trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học hàng đầu, tiếp cận thị trường khoa học, công nghệ đẳng cấp. Đây chỉ là một dẫn chứng, nhưng các doanh nghiệp Việt cần động lực mới để vượt ngưỡng. Lúc này, nền kinh tế Việt Nam cần những doanh nghiệp có thể cạnh tranh sòng phẳng ở thị trường quốc tế, dù đó là doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh quan điểm, vĩ mô ổn định thì nền kinh tế mới phát triển. Chỉ khi đó, doanh nghiệp mới dự đoán được thị trường, tính toán để đưa ra các quyết định đầu tư dài hạn. Ngược lại, họ sẽ chuyển sang trạng thái “đầu cơ”.
Ngay bây giờ, chúng ta phải bắt đầu từ những giải pháp khôi phục lại niềm tin của doanh nghiệp, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, khiến họ khao khát đầu tư, phát triển và cống hiến cho đất nước.
_________
TS Nguyễn Đình Cung
Đây là một tư duy quản trị hướng tới doanh nghiệp một cách thật sự, hiểu về doanh nghiệp một cách cặn kẽ. Bởi với cộng đồng doanh nghiệp, “an tâm” là từ khóa quan trọng, là cơ sở để người dân có lòng tin, dốc hết của cải và năng lực sáng tạo ra đầu tư, phát triển, để cống hiến cho xã hội. Nhưng để làm được, hệ thống pháp luật phải bảo đảm và nhất quán quan điểm “mọi người có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm” ở mọi cấp, ngành. Bởi khi các tranh chấp pháp lý được xử lý công bằng qua hệ thống tòa án, sẽ thu hẹp nguy cơ hình sự hóa, giúp doanh nghiệp, doanh nhân yên tâm đầu tư kinh doanh, thật sự trở thành lực lượng tiên phong trong công nghiệp, hiện đại hóa đất nước.
Làm được như vậy, một thế hệ doanh nhân mới sẽ xuất hiện, với đủ “Tâm - Tầm - Trí - Lực” để tự tin khẳng định vị thế và khát vọng Việt Nam trên trường quốc tế. Tôi tin khi đó, sức sống, bản lĩnh và tinh thần Việt Nam sẽ rạng ngời tỏa sáng!