Đứng ở lưng chừng con dốc, trước mắt tôi là những khúc cua tay áo hun hút dẫn lên Tà Xùa - “thiên đường mây” của vùng Tây Bắc. Lần này tôi không lên núi để săn mây, mà tìm về bản Bẹ, thung lũng hoang vắng của rừng chè shan tuyết cổ thụ. Con đường ô-tô nay đã vào đến bản, thay cho lối mòn năm nào - một thay đổi không đến từ phép màu, mà từ sự bền bỉ của người đàn ông mà bạn bè vẫn gọi vui là “dị nhân” Phạm Vũ Khánh.
Học Đại học Bách khoa, từng du học Đông Âu, tham gia chế tạo khung xe máy, xe buýt cho thị trường trong nước và được xem là “bàn tay vàng” của ngành cơ khí ô-tô những năm 1990-2000, Phạm Vũ Khánh bất ngờ rẽ ngang. Anh rời xưởng máy, bước sang một con đường tưởng như không liên quan: làm trà xuất khẩu. Trong hành trình ấy, Khánh có người bạn đồng hành là vợ - chị Nguyễn Thị Thắm, một doanh nhân trà đã có tên tuổi. Trên lối rẽ đó, anh sớm nhận ra nghịch lý: Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng trà, nhưng giá bán rẻ, giá trị gia tăng thấp. Người thiệt nhất vẫn là nông dân, cây chè chỉ giúp “đỡ đói”, chưa bao giờ là con đường làm giàu. Ngay cả chè shan tuyết cổ thụ cũng không thoát thân phận ấy. Câu hỏi cứ đeo bám Khánh: vì sao một đất nước có chè trăm năm tuổi lại chỉ bán được chè “cỏ”? Và khi đang ở đỉnh cao của xuất khẩu trà, anh lặng lẽ rẽ sang một lối đi khác, khó hơn, chậm hơn.
Suốt nhiều ngày tháng, Khánh độc hành qua những cánh rừng Tây Bắc để giải mã một “nghịch lý trà Việt”. Giữa lúc thị trường vẫn mải mê với chén trà chát nước xanh vùng trung du, anh lại ngược ngàn tìm đến những cây shan tuyết cổ thụ. Thẩm qua vị đậm sâu của chè shan tuyết Hà Giang, hương hoa trà Suối Giàng hay cái chát nồng của trà Tủa Chùa, chỉ khi chạm vào sắc nước vàng như mật ong, thơm dịu mà cân bằng tại “thiên đường mây” Tà Xùa, Khánh biết mình đã tìm thấy bến đỗ. Chị Thắm cũng rời công việc làm trà xuất khẩu vốn đã quen thuộc 15 năm để dấn thân đồng hành cùng chồng, dù biết đó là cả một “hành lộ nan”.
Ở độ cao 1.600m, một cảnh tượng đau lòng hiện ra: những gốc chè “quốc bảo” bị chặt làm củi, đốt làm rẫy vì giá bán rẻ rúng. Giữa vùng đất không điện, không đường, người H’Mông sống gần như tách biệt, để cứu rừng chè, Khánh bắt đầu bằng học tiếng H’Mông, “ba cùng” với bà con để nói về giá trị của chè shan tuyết cổ thụ.
Trà Tà Xùa là món quà của sự khắc nghiệt. Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao, cùng lớp áo mây mù bao phủ quanh năm đã bắt búp chè phải tích tụ nội chất chậm rãi, chắt chiu từng phần tinh túy từ tầng đất đá giàu khoáng sâu trong lòng núi. Trên hành trình dựng lại giá trị cho chè shan tuyết cổ thụ, vợ chồng Khánh nhận được sự đồng hành của chính quyền địa phương, cùng khởi động dự án phục tráng và phát triển vùng chè Tà Xùa. Tháng 3/2015, Công ty trách nhiệm hữu hạn Trà và Đặc sản Tây Bắc (Tafood) ra đời ngay núi cao.
Từ đây, vùng chè được quy hoạch lại bài bản: Tafood bao tiêu toàn bộ 75ha chè cổ thụ, đồng thời bám bản hướng dẫn bà con hái đúng kỹ thuật, nhận diện đúng giống chè shan tuyết bản địa, để giữ rừng chè và giữ lại giá trị của một giống chè quý hiếm. Họ chọn tên thương hiệu trà của mình là Shanam nghĩa là trà shan tuyết của Việt Nam và đồng hành cùng người H’Mông bản địa để khai thác loại “vàng xanh” này. Những công nhân người H’Mông đầu tiên được mời vào làm việc trong nhà máy hầu hết không biết chữ, vợ chồng Khánh và các cộng sự dành nguyên cả mấy tháng trời để dạy họ học chữ, học thu hái chè, sao chè, bán hàng, sử dụng máy vi tính..
Từ dự án trà của vợ chồng Khánh-Thắm, bản làng cũng đổi khác. Con đường bê-tông được đầu tư nối vào bản Bẹ, và hơn 200 cây chè shan tuyết cổ thụ ở đây được công nhận là Cây di sản… Mảnh đất hoang vu ngày nào giờ đây đã mọc lên một Trà Mây hostel Tà Xùa để phục vụ du khách đến với những rừng chè di sản và ngắm mây. Thương hiệu trà Shanam đã từ núi cao lan tỏa, trở thành một thức uống làm nhiều người dưới xuôi mê đắm đến mức muốn lên Tà Xùa chiêm ngưỡng những gốc chè cổ thụ… Ở Trà Mây Hostel, Khánh dày công sắp đặt một không gian thưởng trà như một bảo tàng về trà shan tuyết. Bước vào đó, xâm chiếm không gian chính là những mùi hương trà quyện bện vào nhau, nồng nàn đậm sâu nhất vẫn là những bánh trà được ép kỹ đang dậy men.
Chị Nguyễn Thị Thắm chậm rãi pha trà. Bạch trà chạm môi bằng vị chát rất nhẹ, rồi để lại hậu vị ngọt sâu, thanh khiết, như có mây núi Tà Xùa lắng lại trong miệng. Hồng trà dịu hơn, thoáng chát ban đầu rồi nhanh chóng chuyển sang ngọt êm, hậu vị sâu và ấm. Có cả thứ trà ủ trong quýt rừng: những quả quýt ôm trà, ngủ yên trong lớp vỏ thơm đẫm tinh dầu. Khi pha, vị chát dịu, ngọt sâu quyện mùi quýt chín, thanh mát, đánh thức mọi giác quan giữa cái lạnh vùng cao.
Đó là “bản giao hưởng” của những vị trà Shanam. Hữu xạ tự nhiên hương-trà từ mây núi Tà Xùa đã được chọn để phục vụ các đại biểu Quốc hội trong những kỳ họp Quốc hội gần đây, lặng lẽ chinh phục người thưởng thức. Một số đại biểu chia sẻ, có dịp sẽ giới thiệu với bạn bè quốc tế loại trà độc đáo này.
Phần thưởng lớn nhất cho vợ chồng Khánh không nằm ở lợi nhuận, mà ở những sinh kế hồi sinh trên tay người H’Mông. Khi cây chè khỏe hơn, búp nảy đều và đầy đặn, mang về nguồn thu ổn định trên chính nương chè xưa, bà con bắt đầu tự bảo nhau giữ lấy “mỏ vàng xanh” theo cách bền vững nhất.
Chọn con đường khó, có lúc vợ chồng Khánh tưởng phải dừng lại. Anh bán cả căn biệt thự ở Hà Nội, mang tiền lên núi cao dựng nhà máy chè. Không chỉ đánh đổi tiền bạc, để có vị ngọt hậu của trà, anh đã phải nếm đủ cay đắng. Có đôi lúc muốn buông, nhưng mỗi lần mệt mỏi, bà con H’Mông lại mang đến vài quả trứng gà mới đẻ, mấy cân gạo nếp… Tình cảm chân chất ấy đã giữ chân Khánh ở lại lâu đến mức khi về Hà Nội, không ít lần bị lạc đường. Nhà máy chè của Khánh nằm ngay dưới Trà Mây, sát rừng chè cổ thụ. Ở đó, công nhân và cán bộ đều là người H’Mông, có hợp đồng, có bảo hiểm. Máy móc, từ ép bánh đến chế biến, phần lớn do chính Khánh thiết kế và chế tạo. Nhờ vậy, những bánh trà Shanam mang hình hài riêng, khác với trà Phổ Nhĩ Trung Quốc và càng để lâu càng ủ men, lên hương, giá trị nhân theo thời gian.
Sáng tinh mơ, lần theo những lối mòn ăn sâu vào núi, trước mắt tôi mở ra rừng chè cổ thụ với những gốc xù xì, hai người ôm không xuể, nằm trong thung lũng và bên dòng suối chảy.
Trên thế giới, chỉ một số quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào còn sở hữu trà shan tuyết cổ thụ - thứ trà kết tinh từ đất, mang dấu ấn vùng miền, thổ nhưỡng và khí hậu, quý như báu vật. Riêng Việt Nam có diện tích và số lượng chè shan cổ thụ lớn hàng đầu thế giới nhưng thứ “vàng xanh” ấy vẫn đang như búp chè non mới hé nụ. Chính sự độc bản ấy khiến vợ chồng Khánh kiên định với con đường làm trà này, dù biết là khó và không dành cho số đông.
Khánh bộc bạch: “Bán trà Shanam không chạy theo số lượng. Tôi chọn kể câu chuyện của cây chè Việt, bán những giá trị văn hóa, lịch sử và sinh thái đã lắng lại trong từng búp chè. Khi người Việt hiểu và tự hào về trà của mình, lúc đó mới có thể giữ được cây, giữ được nghề lâu dài”.
10 năm trước ở bản Bẹ, tôi đã gặp những gia đình người H’Mông nghèo đến mức nhiều đứa trẻ không có quần áo mặc. Giờ đây quay lại, ngôi nhà khang trang được xây dựng, một số trẻ nghèo khó ngày nào giờ thành công nhân của Shanam, có cuộc sống no đủ…
Những cây đào đã chớm nở dưới mái nhà người H’Mông và rừng chè shan tuyết dường như đang rạo rực, búp non cựa mình khi xuân về. Đó cũng chính là điều mà vợ chồng Khánh muốn hướng tới, khi mới đây, kỷ niệm hành trình 8 năm của Shanam, trên tấm phông họ cho in ảnh cây chè cổ thụ và dòng chữ: “Gốc xưa chảy vào ngày mới”.