Lợi thế của nông nghiệp
Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Tháp có diện tích sầu riêng trên gần 29.000ha, sản lượng khoảng 470.000 tấn. Trong đó, địa phương đã cấp 350 mã số vùng trồng xuất khẩu, với diện tích gần 14.100ha.
Ông Nguyễn Văn Hùng, phường Cai Lậy (tỉnh Đồng Tháp) trồng 0,7ha sầu riêng được hơn 10 năm tuổi. Trong những năm qua, ông đã thay đổi tư duy từ canh tác theo kiểu truyền thống sang tiếp cận khoa học kỹ thuật, ghi chép nhật ký sản xuất, áp dụng quy trình chuẩn, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và bán được giá cao hơn.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hùng cho biết: “Trước đây, gia đình chỉ để trái theo vụ thuận nên giá bán không cao, lợi nhuận không nhiều. Sau đó, tôi đã tìm tòi, học hỏi từ những người đi trước và các khóa tập huấn của cán bộ ngành nông nghiệp nên mạnh dạn để trái nghịch vụ. Trong 2 vụ mùa vừa qua, gia đình đã xử lý trái nghịch vụ thành công, bán được giá cao gấp đôi so với vụ thuận. Đặc biệt, vụ mùa 2024, vườn có 125 gốc nhưng bán được 12 tấn, trong đó 80% sản phẩm đạt loại 1. Với giá bình quân 110.000 đồng/kg, lợi nhuận sau khi trừ chi phí còn gần 1 tỷ đồng”.
Kinh nghiệm nhiều năm liền, ông Hùng nắm vững quy trình sản xuất, từ khâu xử lý ra hoa đến đậu trái. Nhờ vậy, sầu riêng đạt chất lượng đồng đều, được doanh nghiệp và thương lái thu mua với giá cao ngay tại vườn.
Cây khóm (dứa) đã bén duyên với vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Đồng Tháp trong hơn 30 năm qua. Đây là loại cây trồng đã giúp vùng đất phèn chua hồi sinh mạnh mẽ và trở thành nguồn sinh kế cho hàng nghìn hộ dân. Hiện, diện tích đạt gần 15.000ha, sản lượng trên 250.000 tấn.
Ông Hồ Văn Bảy, xã Hưng Thạnh (tỉnh Đồng Tháp) canh tác 18ha khóm phấn khởi cho biết, hằng năm, sản lượng khóm thương phẩm của gia đình ông đạt khoảng 380 tấn, tổng thu gần 3,7 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt trên 1,5 tỷ đồng. Trong vài năm trở lại đây, ông và nông dân trồng khóm đã quan tâm ứng dụng các biện pháp khoa học-kỹ thuật nên năng suất và sản lượng năm sau cao hơn năm trước, bảo đảm chất lượng, được người tiêu dùng ưa chuộng, khẳng định được thương hiệu khóm Tân Phước.
Ngoài bán trái tươi, nhiều doanh nghiệp và người dân nơi đây còn tận dụng các loại khóm không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu để sơ chế, chế biến ra nhiều sản phẩm giá trị cao như: kẹo khóm, nước màu khóm, nước giải khát từ trái khóm… phục vụ thị trường.
Hướng vào ngành hàng chủ lực
Hiện nay, tỉnh Đồng Tháp có diện tích gieo trồng lúa đạt trên 610.000ha, sản lượng đạt trên 4 triệu tấn (đứng thứ 2 cả nước); cấp 311 vùng trồng phục vụ xuất khẩu, với tổng diện tích gần 48.000ha. Ngành hàng hoa màu, hoa kiểng và cây công nghiệp ngắn ngày có diện tích gieo trồng đạt trên 87.000ha, sản lượng đạt trên 1,7 triệu tấn; 50 vùng trồng phục vụ xuất khẩu, với tổng diện tích gần 2.000ha. Cây ăn trái có tổng diện tích trồng đạt trên 134.000ha, sản lượng đạt 2,5 triệu tấn, với khoảng 1.000 vùng trồng phục vụ xuất khẩu, tổng diện tích 48.600ha. Ngành chăn nuôi có trên 2.600 trang trại/114.500 cơ sở chăn nuôi. Ngành thủy sản thả nuôi đạt trên 22.000ha, sản lượng đạt khoảng 930 triệu tấn.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Lê Hà Luân cho biết, để nâng cao hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, ngành nông nghiệp tỉnh đã tổ chức lại sản xuất trên cơ sở cơ cấu lại nội bộ, ngành, tập trung vào các ngành hàng chủ lực, gắn với định hướng phát triển theo hướng sinh thái, bền vững, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao của thị trường. Nhiều mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp đã được điều chỉnh để phù hợp hơn với yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường và tiêu chuẩn xuất khẩu.
Đáng chú ý, chuyển đổi số trong nông nghiệp được xác định là một trong những động lực cốt lõi thúc đẩy quá trình tái cơ cấu và hiện đại hóa nông nghiệp. Nhiều mô hình, giải pháp công nghệ được triển khai và nhân rộng như: nền tảng dữ liệu số về nông nghiệp, hệ thống tưới tiêu thông minh, ứng dụng thiết bị bay không người lái (drone) trong gieo sạ và phun thuốc, cơ giới hóa đồng bộ trong các khâu sản xuất, tự động hóa trong chăn nuôi... Các ứng dụng này không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất mà còn góp phần minh bạch hóa thông tin, truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
Phát triển chuỗi giá trị ngành hàng là nền tảng để tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với điều kiện cụ thể từng ngành hàng gắn với nhu cầu và đáp ứng những tiêu chí, tiêu chuẩn của thị trường để bảo đảm kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm; phát triển, tổ chức lại thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước; góp phần đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; hình thành nên những vùng nông nghiệp hàng hóa, tập trung, quy mô lớn theo hướng hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; hình thành các vùng chuyên canh nông sản hàng hóa chất lượng cao, quy mô lớn đạt tiêu chuẩn phổ biến về an toàn thực phẩm, gắn với chỉ dẫn địa lý, mã vùng trồng và truy xuất nguồn gốc…
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tỉnh không chỉ tập trung vào nâng cao năng suất, sản lượng mà còn chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng nông sản. Việc phát triển, chọn tạo và sử dụng giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu chế biến và thị trường tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Theo đồng chí Lê Hà Luân Lấy, với quan điểm đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và cải cách thể chế làm động lực để phát triển người nông dân văn minh. Do đó, địa phương định hướng xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có trình độ, được đào tạo bài bản, tham gia các tổ chức kinh tế tập thể như: hợp tác xã, tổ hợp tác, hội quán, câu lạc bộ nông dân làm kinh tế giỏi; từng bước hình thành lớp nông dân có tư duy thị trường, chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất, có tinh thần trách nhiệm, hợp tác và kết nối.
Trong xu thế phát triển chung của cả nước, nông nghiệp Đồng Tháp có sự phát triển ổn định, tăng trưởng cao và đặc biệt có nhiều mô hình sáng tạo, cách làm hay nhiều mô hình đang tiếp cận theo hướng sinh thái.