Các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, coi đây là bước đi quan trọng để cải thiện chất lượng sống của người dân. (Ảnh TTXVN)
Các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, coi đây là bước đi quan trọng để cải thiện chất lượng sống của người dân. (Ảnh TTXVN)

Hành động quyết liệt vì một môi trường xanh

Ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng nghiêm trọng. Trong bối cảnh sức ép về tốc độ đô thị hóa, dân số, cơ sở hạ tầng giao thông, biến đổi khí hậu gia tăng..., sẽ là thách thức lớn nếu các địa phương không quyết liệt hành động.

Kiểm soát mạnh mẽ nguồn gây ô nhiễm

Trong những ngày đầu năm 2026, ô nhiễm không khí khiến bầu trời Thành phố Hồ Chí Minh giữa trưa vẫn như chìm dưới một lớp màn ngầu đục. Theo dõi quan trắc, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận, ô nhiễm không khí tại thành phố chủ yếu liên quan đến bụi. Một số thời điểm nồng độ bụi tổng (TSP) và bụi mịn PM10, PM2.5 tại một số vị trí giao thông vượt quy chuẩn Việt Nam.

Giảm ô nhiễm, nhiều năm qua Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp, đề ra các trọng tâm như: Quy hoạch theo hướng xanh, bền vững, xây dựng Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030 phù hợp với phạm vi sau sáp nhập... Thành phố đẩy mạnh xây dựng lộ trình hạn chế phương tiện gây ô nhiễm tại khu vực lõi đô thị, nhằm từng bước kéo giảm ô nhiễm không khí tại các khu vực trung tâm. Tập trung sáu tuyến metro cơ bản để chuyển đổi, nhằm tạo bước chuyển rõ rệt trong việc thay đổi thói quen đi lại của người dân, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.

Cũng theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố có 71% số lượng xe taxi đang sử dụng động cơ điện thay vì trước đây dùng xăng, dầu. Đây là một trong những giải pháp được ngành nông nghiệp môi trường và ngành giao thông vận tải đưa ra và có kiểm soát.

Với Hà Nội, ô nhiễm không khí cũng đang trở thành một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất. Một trong những hạn chế lớn trong kiểm soát ô nhiễm thời gian qua là chưa xác định và xử lý triệt để các "điểm nóng" phát thải. Như chia sẻ của ông Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam: "Đến nay đã xác định ô nhiễm không khí do bốn nguồn chính: sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông, đốt rác. Nhưng để quản lý, kiểm soát hiệu quả, cơ quan chức năng phải xác định cụ thể hơn nguồn phát thải đó nằm ở đâu, thuộc địa bàn nào, mỗi năm thải ra bao nhiêu tấn bụi, khí thải? Nếu như không có những dữ liệu này, cơ quan quản lý khó quy trách nhiệm rõ ràng ô nhiễm không khí đến từ các nhà máy xi-măng, nhiệt điện hay làng nghề".

Ngăn chặn ô nhiễm, theo ông Vũ Hữu Liêm, Giám đốc Trung tâm Giám sát nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, Cục Viễn thám quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường): "Vừa qua, đơn vị phối hợp với chuyên gia của Trường đại học Công nghệ Giao thông vận tải sử dụng hai nhóm giải pháp phát hiện ô nhiễm không khí tại Thủ đô gồm: ứng dụng ảnh vệ tinh độ phân giải cao và siêu cao giám sát công trường xây dựng, làng nghề đã phát hiện những dấu hiệu phát thải như ống khói, điểm đốt mở. Cùng đó là sử dụng thiết bị bay không người lái để giám sát và xử lý các tình huống phát sinh theo thời gian thực cung cấp dữ liệu trực tiếp phục vụ công tác kiểm tra, xử lý. Qua đó, cơ quan chức năng xác định 68 công trường xây dựng, 14 làng nghề tái chế nhựa, sắt thép cần theo dõi trọng điểm".

Như vậy, việc tích hợp dữ liệu vệ tinh, thiết bị bay không người lái với hệ thống camera giao thông để xây dựng bản đồ ô nhiễm không khí thời gian thực, giúp cơ quan quản lý chuyển từ phản ứng bị động sang chủ động phòng ngừa, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường không khí cho Hà Nội.

Lấp khoảng trống về giám sát nguồn thải

“Công tác kiểm kê nguồn phát thải hiện nay dù được xác định là then chốt nhưng vẫn mang tính “thời điểm” nhiều hơn là liên tục. Đơn cử như việc kiểm soát xe máy, với hàng triệu phương tiện di chuyển liên tục, việc kiểm kê thủ công là nhiệm vụ bất khả thi. Việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu đồng bộ khiến các cơ quan giám sát gặp khó trong việc đưa ra các quyết sách. Nếu không có số liệu chính xác về tỷ lệ ô nhiễm của từng loại nguồn thải tại từng thời điểm, việc ban hành giải pháp, các lệnh cấm hay hạn chế sẽ thiếu cơ sở khoa học thuyết phục, khó nhận được sự đồng thuận từ người dân. Việt Nam cần tiếp cận kinh nghiệm quốc tế, hướng tới cơ chế cập nhật dữ liệu kiểm kê thường xuyên. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống dữ liệu quốc gia cập nhật, làm căn cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định và điều chỉnh chính sách”.

Ông Trương Mạnh Tuấn,

Phó trưởng Phòng Quản lý chất lượng môi trường,

Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Hoàn thiện thể chế và siết chặt quản lý nguồn thải

Mặc dù, những năm qua các đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh triển khai nhiều giải pháp để giảm tình trạng ô nhiễm không khí nhưng vẫn chưa được như kỳ vọng. Nguyên nhân chính nằm ở việc các thành phố thiếu dữ liệu để xây dựng chính sách và kế hoạch hành động. Các nguồn lực, cơ chế tài chính, tính liên kết vùng, địa phương chưa được đầu tư, kết nối đúng mức.

Đồng bộ các giải pháp, phía cơ quan quản lý, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết: "Trước mắt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai hai giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, thiết lập cơ chế giám sát và gửi báo cáo hằng tuần. Định kỳ trước 11 giờ thứ sáu hằng tuần, Bộ sẽ tổng hợp số liệu từ các địa phương, đánh giá tiến độ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Thứ hai, tăng cường mạng lưới quan trắc để có cơ sở xử lý".

Về lâu dài, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất thực hiện các biện pháp khẩn cấp kiểm soát nguồn thải. Bộ đã ban hành hai văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố, yêu cầu kích hoạt ngay các biện pháp khẩn cấp như tăng cường rửa đường; kiểm soát 100% các công trình xây dựng và nghiêm cấm đốt mở, rà soát các hoạt động, khuyến khích cắt giảm công suất trong những ngày cao điểm.

Ông Tiến nhấn mạnh: "Trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung vào bốn nhóm giải pháp. Nhóm thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện, xây dựng kế hoạch của Bộ để triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng không khí giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Quyết định số 2530/QĐ-TTg ngày 19/11/2025. Cùng với đó, thực hiện các hoạt động, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo quốc gia về khắc phục ô nhiễm không khí sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý, phê duyệt. Nghiên cứu và thực hiện sửa các quy định về bảo vệ môi trường không khí tại Luật Bảo vệ môi trường. Hoàn thiện dự thảo, trình cấp có thẩm quyền ban hành lộ trình và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải đối với xe mô-tô, xe gắn máy tham gia giao thông. Nhóm thứ hai về đầu tư hạ tầng và ứng dụng khoa học-công nghệ để giải quyết ô nhiễm môi trường chung cũng như ô nhiễm không khí đang được Bộ lên kế hoạch để triển khai. Nhóm thứ ba về kiểm soát nguồn thải từ xe ô-tô, xe gắn máy… Nhóm thứ tư về hỗ trợ địa phương, truyền thông và hợp tác quốc tế".

Nhiều chuyên gia nhìn nhận, thể chế và chính sách là "xương sống" của nỗ lực kiểm soát ô nhiễm không khí. Tuy nhiên, nếu thiếu sự phối hợp liên ngành, thiếu nguồn lực và thiếu giám sát chặt chẽ, các quy định rất dễ rơi vào tình trạng hình thức. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường, đồng thời công khai thông tin để người dân cùng giám sát.

Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng đề xuất: "Cần phải chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính sang quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu, trong đó giải pháp đột phá là số hóa tất cả các nguồn thải lên một bản đồ số. Bản đồ số này phải được cập nhật đầy đủ dữ liệu của cơ sở sản xuất, địa chỉ, ngành nghề, đang sản xuất sản phẩm gì, phát thải bao nhiêu? Khi có những dữ liệu này kết hợp hệ thống quan trắc trực tuyến có thể tính toán ngay lập tức mức độ gây ô nhiễm của từng nguồn thải. Vì vậy, cần có quy định cơ sở sản xuất phải báo cáo định kỳ trên ứng dụng di động chứ không chờ đợi phát phiếu kê khai".

Cũng theo ông Tùng, nếu xây dựng được kho dữ liệu nguồn thải, đơn cử như Hà Nội mới có thể xác định rõ nguồn ô nhiễm là nội tại hay do phát tán từ các tỉnh lân cận theo hướng gió, từ đó xây dựng các kịch bản để chủ động ứng phó.

Ô nhiễm không khí không dừng lại ở ranh giới hành chính. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đô thị như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh lân cận trong kiểm soát nguồn thải công nghiệp, giao thông và hoạt động đốt ngoài trời. Cách tiếp cận liên vùng sẽ giúp giảm “hiệu ứng lan truyền” ô nhiễm, vốn là nguyên nhân khiến nhiều biện pháp đơn lẻ trước đây chưa phát huy hiệu quả ■

Ưu tiên phương tiện sử dụng năng lượng sạch và vận tải công cộng

“Một trong những giải pháp được đánh giá có tính đột phá giải quyết bài toán ô nhiễm không khí tại khu vực trung tâm Hà Nội là triển khai vùng phát thải thấp (Low Emission
Zone - LEZ). Thành phố đã ban hành nghị quyết về thực hiện vùng phát thải thấp, với các tiêu chí lựa chọn khu vực dựa trên mức độ ô nhiễm, tình trạng ùn tắc giao thông và dữ liệu quan trắc. Theo đó, trong vùng phát thải thấp, các phương tiện không đáp ứng tiêu chuẩn khí thải sẽ bị hạn chế hoặc cấm lưu thông, đồng thời ưu tiên phương tiện sử dụng năng lượng sạch và vận tải công cộng.”

Lê Thanh Thủy, Phó Trưởng phòng Quản lý môi trường,

Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội.

Xem thêm