Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi duy trì 102 điểm giao dịch ở các xã, phường phía tây giúp người dân tiếp cận vốn nhanh chóng.
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi duy trì 102 điểm giao dịch ở các xã, phường phía tây giúp người dân tiếp cận vốn nhanh chóng.

Đa dạng hóa nguồn vốn vay, hỗ trợ vùng cao phát triển

Sau khi sáp nhập và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều sự thay đổi, điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường.

Để bảo đảm các hoạt động tín dụng ổn định, giúp người dân tiếp cận vốn vay thuận lợi, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi duy trì các điểm giao dịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đồng thời, đơn vị đa dạng hóa nguồn vốn, chiến lược cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng cao.

Mạng lưới tín dụng bám trụ cơ sở

Tỉnh Quảng Ngãi hiện có 96 xã, phường và đặc khu; trong đó, có 50 xã, phường vùng cao, biên giới. Để bảo đảm hoạt động tín dụng ổn định, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục duy trì mạng lưới 275 điểm giao dịch tại các xã, phường cũ và gần 4.300 Tổ tiết kiệm và vay vốn phục vụ nhân dân. Trong đó, 43 điểm giao dịch đặt tại trụ sở xã mới, 84 điểm tại trụ sở xã cũ và 148 điểm tại các thôn, cụm dân cư. Các điểm giao dịch thực hiện giải ngân, tiếp nhận tiền gửi tiết kiệm và tuyên truyền chính sách tín dụng đến các thôn, tổ ở vùng sâu, vùng xa. Tại 50 xã, phường phía tây tỉnh Quảng Ngãi, Chi nhánh duy trì 102 điểm giao dịch nhằm giúp hộ nghèo, các đối tượng chính sách tiếp cận vốn nhanh chóng, giảm chi phí đi lại.

Được sáp nhập từ ba xã Đăk Tờ Re, Đăk Ruồng và Tân Lập, xã Kon Braih có 21 thôn cùng 4.000 hộ dân. Do địa bàn rộng, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi duy trì 4 điểm giao dịch tại các xã cũ, bảo đảm hoạt động tín dụng chính sách thông suốt. Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kon Braih Lê Quang Chính, tổng dư nợ của tín dụng chính sách trên địa bàn xã gần 210 tỷ đồng, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình. Việc duy trì các điểm giao dịch đã hỗ trợ địa phương mở rộng sản xuất, giảm nghèo trong giai đoạn sáp nhập hành chính cấp xã.

Cùng với việc duy trì mạng lưới giao dịch, đơn vị chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân. “Để phục vụ nhân dân, chúng tôi tiếp tục duy trì các hoạt động giao dịch đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách tại các điểm giao dịch cũ, thôn, tổ trước đây. Tại các địa bàn xa trung tâm, đơn vị phối hợp với chính quyền địa phương bố trí địa điểm giao dịch tại trụ sở xã, nhà văn hóa thôn để tiếp cận người dân nhanh nhất”, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết.

Hơn một năm qua, vốn tín dụng chính sách xã hội đã giúp 67.700 lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế; trong đó, khu vực miền núi, biên giới chiếm khoảng 60% tổng vốn vay. Hơn 7.300 hộ ở vùng khó khăn được vay vốn phát triển kinh tế; 1.200 hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được vay vốn xây dựng nhà ở, đất ở và chuyển đổi nghề.

Tiếp sức để vùng sâu, vùng xa phát triển

Nhiều năm qua, tại các xã vùng cao, biên giới tỉnh Quảng Ngãi, tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ kịp thời cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách, đáp ứng nhu cầu vốn để sản xuất, kinh doanh. Đồng thời hỗ trợ địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, khôi phục sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Song song đó, nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội được triển khai gắn với các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đến nay, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đạt gần 11.900 tỷ đồng, dư nợ các chương trình tín dụng hơn 11.800 tỷ đồng và 178.600 khách hàng còn dư nợ. Tại các xã miền núi, biên giới, chính quyền địa phương hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng vốn vay để mở rộng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế như cà-phê, dược liệu, cây ăn quả, cải tạo vườn tạp đạt hiệu quả cao.

Trong không gian phát triển mới khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục là kênh quan trọng giúp chính quyền và người dân định hình phát triển kinh tế, đa dạng hóa các mô hình sản xuất phù hợp. Bên cạnh các chương trình cho vay đối tượng chính sách, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi mở rộng nguồn vốn cho các dự án cộng đồng, mô hình phát triển kinh tế địa phương như du lịch cộng đồng, nông nghiệp đặc thù, sản xuất gắn với xây dựng nông thôn mới.

Năm 2026, đơn vị phối hợp với các ngành chức năng xây dựng đề án cho vay phát triển du lịch cộng đồng, trồng rau, hoa, củ, quả xứ lạnh và dược liệu trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là hướng đi mới, giúp tín dụng chính sách xã hội hỗ trợ người dân tham gia các chiến lược đầu tư, kinh doanh quy mô lớn hơn. Anh A Nhanh, xã Đăk Pék cho biết, nếu địa phương triển khai mô hình trồng dược liệu với vốn vay ưu đãi, anh sẽ tham gia sớm để nâng cao thu nhập cho gia đình.

“Chúng tôi phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng các đề án cho vay phát triển du lịch cộng đồng, trồng rau hoa xứ lạnh và dược liệu. Các đề án này kỳ vọng mang lại hiệu quả thiết thực, để cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương và người dân cùng hưởng lợi”, đại diện Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ.

Hiện nay, khó khăn lớn nhất của tín dụng chính sách xã hội ở Quảng Ngãi là nguồn vốn cho vay hỗ trợ tạo việc làm chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó, chất lượng hoạt động tín dụng tại một số xã vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; việc phối hợp với một số chính quyền địa phương trong xử lý thu nợ đối với các hộ vay đi khỏi nơi cư trú chưa thật sự hiệu quả. Tín dụng chính sách xã hội là một trong những trụ cột quan trọng trong thực hiện các chương trình an sinh xã hội tại địa phương.

Năm 2026, các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi đặt mục tiêu 100% hộ nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách; tỷ lệ tăng trưởng dư nợ đạt trên 10%. Chính quyền địa phương ở cơ sở ưu tiên nguồn vốn cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa; đồng thời đầu tư các mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả, thu hút lao động, phát triển làng nghề truyền thống và sản phẩm OCOP.

Xem thêm