Đọc thơ ông là thưởng thức một bữa tiệc thi ca, cảm xúc, trí tuệ và nhân văn. Được đến thăm nhà ông, nay là Bảo tàng Tagore ở Kolkata là một hạnh ngộ hiếm có, dù ông đã rời xa thế gian này hơn 80 năm.
Con ngõ vào nhà Rabindranath Tagore khá nhỏ và có vẻ hơi tầm thường so với tên tuổi chủ nhân. Trên cánh cổng còn vết tờ rơi quảng cáo bóc chưa hết. Đó là một buổi chiều cuối tháng 11 năm 2025, nắng ấm, khá trong xanh nếu so với không khí ô nhiễm ở Kolkata khiến bầu trời thường mù mịt.
Trước khi đến đây tôi đã đọc bài viết của các đồng nghiệp và vào web của bảo tàng để tìm hiểu, thấy thông báo vé vào cửa miễn phí, nhưng thực tế là có thu phí. Người nước ngoài 500 rupee (tương đương 150 nghìn đồng); người Ấn Độ và Bangladesh 50 rupee, riêng học sinh, sinh viên 20 rupee (5.000 đồng). Thêm một quy định không vui lắm, cấm chụp ảnh, còn nếu như muốn chụp, phải trả thêm 200 rupee. Tagore qua đời đã lâu, tuy ông vẫn đang mang lại tiền cho các hậu nhân từ sự hâm mộ của khách thập phương nhưng họ dường như đang tận thu từ ông, nhiều người chúng tôi nghĩ thế, dù vé do ban tổ chức mua cho cả đoàn.
Trước mắt chúng tôi là khu dinh thự lớn, với những tòa nhà hai tầng sơn hai màu chủ đạo đỏ - xanh, mang đường nét kiến trúc Bengal pha trộn Á - Âu. Bên phải, nhìn từ ngoài vào là một khu vườn rộng, có bức tượng Tagore đang đọc sách, bằng đá, rất đẹp. Bên trái ông có một dãy nhà ngang, là nhà hát nhỏ nơi Tagore dựng những vở kịch do chính ông viết. Bên trong khu dinh thự còn có một nhà hát ngoài trời lớn hơn, với những bậc thềm và nhiều cột đá cẩm thạch, cũng là nơi thường biểu diễn các vở kịch của ông.
Khu dinh thự khổng lồ này do ông nội Tagore là Dwarkanath Tagore xây nên cách đây hơn 200 năm. Dwarkanath là một đại doanh nhân bản địa, có tư duy nhạy bén, làm ăn với giới tư bản Anh từ rất sớm. Những tài liệu chính thống cho biết, tài sản của ông đến từ hoạt động buôn bán, tài chính (ngân hàng), bất động sản, khai mỏ… Nhưng Ahmed Zaabar, nhà thơ, nhà báo người Tunisia, hiện sống và làm việc tại London (Vương quốc Anh), sau khi đưa mắt nhìn chung quanh, thì thào nói với tôi: “Nguồn thu lớn nhất của ông ta là từ buôn bán thuốc phiện”. Dwarkanath đã dùng khối tài sản khổng lồ có được thuê các kiến trúc sư người Anh thiết kế và xây khu dinh thự mà chúng ta thấy ngày nay, vì vậy nó mang những nét độc đáo kết hợp kiến trúc Anh - Ấn.
Đến thời cha của Tagore, ông Debendranath Tagore, tuy thừa hưởng khối gia sản lớn của gia đình, nhưng không mấy quan tâm đến tiền bạc, sống giản dị, chú tâm nghiên cứu tôn giáo, sau này trở thành một nhà triết học, nhà hoạt động xã hội và cải cách tôn giáo nổi tiếng. Tài sản của dòng họ Tagore tiếp tục phình to nhờ nguồn thu địa tô từ các điền trang lớn bên cạnh các hoạt động kinh doanh mỏ than, vận tải buôn muối, thuốc phiện, tơ lụa…
Nhà thơ Tagore đã được thừa hưởng từ dòng họ tài sản vật chất to lớn, nhưng may mắn thay, ông còn được hưởng di sản tinh thần về tôn giáo, đạo đức, văn hóa của cha. Từ nhỏ ông sống trong môi trường đa văn hóa với các sinh hoạt âm nhạc, sân khấu, văn chương. Cũng từ cha, ông nhận được nền giáo dục tự do, phóng khoáng, gần với thiên nhiên, đề cao tự học và thiền định…, những điều đó đã tác động sâu sắc đến tư tưởng và sáng tác của Tagore sau này. Bên cạnh tài năng, những di sản ấy đã góp phần làm nên một Tagore vĩ đại, rạng danh đất nước Ấn Độ.
Trong cuộc đời rực rỡ của mình, Tagore được rất nhiều phụ nữ yêu mến, ngưỡng mộ. Những mối tình của ông chủ yếu mang màu sắc “ái tình tinh thần”, là nguồn cảm hứng để ông sáng tác những áng thơ, những tác phẩm âm nhạc, sân khấu, hội họa tuyệt vời. Aminur chỉ tay lên tầng hai của dãy nhà cạnh sân khấu nói: “Chỗ kia được cho là nơi Kadambari Devi đã tự sát”.
Kadambari Devi là ai? Bà chính là chị dâu của Tagore, theo tục tảo hôn thời bấy giờ, đã kết hôn với anh trai của Tagore khi bà mới 9 tuổi. Gần bằng tuổi nhau, sống trong cùng một ngôi nhà, bà và Tagore nhanh chóng trở nên một đôi bạn tâm đầu ý hợp. Bà chính là nguồn cảm hứng để Tagore viết những bài thơ tình mãnh liệt ở tuổi thành niên. Hai người yêu nhau tha thiết là việc không phải bàn cãi, nhưng bà chỉ là nàng thơ của ông, không có bằng chứng nào họ vượt qua ranh giới chị dâu em chồng. Bốn tháng sau khi Tagore lấy vợ, bà đã tự sát bằng thuốc phiện, khi mới 25 tuổi. Tuy nguyên nhân bà tìm đến cái chết vẫn còn bí ẩn, nhưng nhiều người cho rằng rất liên quan đến Tagore. Ông bị sốc nặng và đã viết nhiều bài thơ, bài hát u buồn để tưởng niệm bà, gọi sự ra đi của bà như đất sụt dưới chân, như bầu trời tắt đi ánh sáng…
Tuy là người vô cùng giàu có, nhưng cũng giống cha mình, Tagore không màng đến tiền bạc mà sử dụng gia sản khổng lồ cho cuộc đời nghệ thuật hào phóng của mình. Trong nhà ông luôn tấp nập tân khách là các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ. Tagore là thủ lĩnh và cũng là người tài trợ cho tất cả các hoạt động nghệ thuật tốn kém ấy. Người ta cho rằng nhiều tác phẩm Tagore vạch ra ý tưởng để một nhóm tác giả triển khai thực hiện rồi ông là người hoàn thiện cuối cùng, giống như cách làm việc nhóm ngày nay.
Ngồi duỗi chân trên bậc đá cẩm thạch cạnh sân khấu, Aminur kể cho tôi nghe câu chuyện Rabindranath Tagore đã giành được giải Nobel văn học đầu tiên cho Ấn Độ và cũng là của châu Á.
Bấy giờ, tuy rất nổi tiếng ở đất nước của mình nhưng ở châu Âu thì Tagore vẫn ít được biết đến. Năm 1912, ở tuổi 51, đúng chất “đại gia”, ông thuê cả một con tàu và mời các bạn văn chương cùng du ngoạn sang nước Anh. Tại London, Tagore đã gặp lại họa sĩ William Rothenstein, người cách đây 2 năm từng đến chơi nhà Tagore ở Kolkata và rất ngưỡng mộ ông. Rothenstein là họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng người Anh, gốc Do thái. Đáp lại thịnh tình của Tagore trước đây, ông đã mời bạn về ở nhà mình một thời gian. Tagore tặng cho Rothenstein bản thảo viết tay những bài thơ bằng tiếng Anh, sau này được in thành tập thơ Gitanjali - Song Offering, chính là tập Thơ dâng dịch sang tiếng Việt.
Tập thơ đã gây ấn tượng mạnh với Rothenstein, ông lập tức sao chép thành nhiều bản và gửi cho các nhà văn, nhà thơ tên tuổi ở London, trong số đó có William Butler Yeats, nhà thơ nổi tiếng gốc Ireland. Giống Rothenstein, Yeats cũng bị xúc động mạnh và ngay lập tức viết lời giới thiệu cho cuốn Gitanjali, gọi Tagore là hiền triết, một thánh nhân của phương Đông.
Ông tham gia biên tập, bố cục lại tập thơ sao cho độc giả châu Âu dễ tiếp nhận nhất. Cùng với Rothenstein, ông vận động các nhà xuất bản London ấn hành tập Thơ dâng. Có thể nói, Yeats và Rothenstein đã đóng vai trò vô cùng quan trọng để một năm sau, năm 1913, Thơ dâng được trao giải thưởng Nobel văn học danh giá. Mười năm sau Tagore, chính William Butler Yeats cũng được trao giải thưởng Nobel văn học.
Aminur cười khà khà, kết luận: “Đúng là anh hùng trọng anh hùng, bởi nếu không có “cầu nối” Yeats và Rothenstein, đường tới Nobel văn học của Tagore chưa biết thế nào, có thể sẽ gian nan hơn nhiều”.
Hôm ấy, tại sân khấu ngoài trời nằm ở cuối dinh thự chúng tôi đã có một màn đọc thơ ngắn, như một tưởng niệm nhà thơ vĩ đại Tagore. Các nhà thơ Ấn Độ “hát” thơ còn các nhà thơ quốc tế đọc thơ tình. Chúng tôi có cảm giác từ phía bức tượng bằng đá ngoài vườn, Tagore rời mắt khỏi cuốn sách đang đọc, độ lượng nở một nụ cười minh triết nhìn các hậu nhân đến từ những phương trời xa xôi.