12/02/2026 - 16:09

Vũ trụ trên vạt áo

Vũ trụ trên vạt áo

Hơn bốn mươi năm làm công việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian, tôi đã tiếp xúc với vài trăm người mà tôi tạm gọi là nghệ nhân. Nhưng chỉ có cụ Tao Văn Păn là người khao khát được kể lại, được để lại những thấy biết, những am tường về văn hóa của mình về dân tộc mình cho hậu thế.

.t1 { color:rgba(252,196,25,1) } Hơn bốn mươi năm làm công việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian , tôi đã tiếp xúc với vài trăm người mà tôi tạm gọi là nghệ nhân. Nhưng chỉ có cụ Tao Văn Păn là người khao khát được kể lại, được để lại những thấy biết, những am tường về văn hóa của mình về dân tộc mình cho hậu thế. Với kho tàng văn hóa của người Lự , cụ là “báu vật sống”. T rong một chuyến điền dã tìm hiểu về người Lự ở vùng thấp huyện Sìn Hồ (cũ), tỉnh Lai Châu, đến xã Nậm Tăm, lãnh đạo xã cử Tao Văn Ún, người bản Nậm Ngặp, cán bộ văn hóa đi theo làm phiên dịch cho tôi. Từ trụ sở xã đi bộ chừng hơn một giờ thì chúng tôi đến bến thuyền. Lúc đó có mấy cô, mấy chị cũng đang ngồi chờ. Tôi ngắm hàng lẹp dọc phần thân dưới lưng áo của cô gái ngồi phía trước, có lẹp được đính những đồng tiền bạc, có lẹp lại được đính hai bên những hạt bạc nhỏ. Tôi chỉ từng đoạn lẹp hỏi người phụ nữ ngồi bên cạnh “Cái này người Lự gọi là gì?”. Người phụ nữ trả lời theo tay chỉ của tôi “Cái này gọi là cọc sao to. Cái này gọi là cọc sao nhỏ. Cái này không gắn sao nên chỉ gọi là tăng xở, tiếng Kinh là cọc áo. Tôi buột miệng “Sao lại gọi là cọc nhỉ?”. Ún lắc đầu “Em cũng chỉ nhớ láng máng. Về bản chị hỏi các cụ cho chính xác”. Dân tộc Lự. (Ảnh: THÀNH ĐẠT) Về bản, hỏi bất kỳ người già nào mà tôi tiếp xúc, tất cả họ đều bảo: “Các cụ gọi thế thì mình cũng gọi theo thôi”. Gần mười năm sau, khi quyết định viết một cuốn sách về “Đồng dao và trò chơi dân gian của trẻ em một số tộc người ở Lai Châu”, trong chuyến điền dã về bản Nậm Tăm 2, tôi gặp cụ Tao Văn Păn, lúc đó đã 93 tuổi, thắc mắc của tôi mới có lời giải. “Con hỏi vì sao người Lự gọi cái lẹp áo là cọc hả? Nghe chuyện Hờn Táu (Nhà Rùa) sẽ biết”, cụ Tao Văn Păn bắt đầu câu chuyện. “Chuyện là thế này: Ngày xửa ngày xưa, ngày mà con người còn mặc vỏ cây, lá cây quanh năm, uống theo khe, theo suối, ăn theo núi, theo rừng. Có mùa ngày ở không yên vì gió mưa, giá rét. Đêm ngủ không ngon vì hổ, báo, gấu rình rập. Một hôm, có người đàn ông ngồi đan lơm bên bờ suối. Thấy có con rùa con bị sóng đánh giạt lên bờ cát. Ông mang rùa lên đặt bên cạnh định bụng về nướng làm bữa. Rùa con cất lời van xin, “Tôi đi chơi bị đá lở đập dập chân đau lắm. Xin người hãy cứu tôi”. Người đan lơm thấy rùa con biết nói tiếng người thì sợ hãi. Nghĩ đó không phải là con rùa thường. Ông bèn đi tìm lá thuốc bó xương về bó chân cho rùa rồi tìm một hốc đá khô ráo thả rùa vào đó. Ông vẫn ngày ngày bên suối đan lơm và úp cá làm thức ăn. Một hôm, có một con rùa lớn bò đến dạy cho ông cách làm nhà. Rùa nói “Con người và muôn loài đều là con của trời. Cứ nhìn trời mà sống. Nhà trời có bốn cột chống ở bốn phương. Mái nhà trời khum khum như mai của ta đây. Mái nhà của trời lợp bằng sao. Mái nhà của rùa ta lợp bằng sừng. Bốn chân ta cũng là bốn cột chống. Cứ nhìn thân hình ta mà làm. Còn mái nhà của người thì lấy cỏ mà lợp nhé...”. Bảo tồn bản sắc dân tộc Lự ở Lai Châu Kể đến đây cụ nhìn tôi hỏi, “Giờ thì con hiểu rồi chứ? Cọc ở áo ấy, không phải là cái cọc bình thường đâu. Là cọc chống trời; là bốn chân con rùa thần; là bốn cột bốn góc nhà sàn đấy. Trong đó có một cột thiêng để thần linh, tổ tiên đi về khi nhà cúng Tết, lễ. Tôi tròn mắt, “Thế ạ?”. Ông cười thành tiếng, “Thì đấy”. Sáng hôm sau, tôi với cụ lại tiếp tục làm rõ câu “Thì đấy”. Tôi mượn chị con dâu cụ chiếc áo trải lên bàn. Cụ vừa chỉ từng họa tiết trên áo vừa giải thích “Con có thấy chân áo phía bụng, phía lưng này được cắt lượn cong cong như cái mai rùa không? Còn những cái mà con gọi là lẹp này thì người Lự gọi là cọc. Đây là chuỗi sao. Chuỗi sao gắn những đồng bạc một hào, hai hào thì gọi là Đao Luông (sao to). Chuỗi sao đính những hạt bạc bé này gọi là Đao Nọi (sao nhỏ). Nhớ nhé, sao là ngói lợp mái nhà trời đấy. Cái mà con gọi là lẹp to, nhiều màu phân chia thân áo này là cầu vồng. Đẹp không?”. Cụ vừa vuốt vuốt, vừa ngắm nghía chiếc áo. “Con thấy người Lự ta xưa nghĩ giỏi không?” - “Giỏi chứ ông. Họ nghĩ giỏi mà làm cũng giỏi nữa”. Cụ gật đầu, “Mẹ ông bảo, tổ tiên người Lự mình biết nhìn mái trời để làm áo mặc là muốn nói với trời - đất: “Con là con của bà, là cháu của ông đây”. Họ mặc áo mái trời là để cho muôn loài biết “Ta là con trời. Ta có mái trời che chở đây. Ta cũng có trăng sao soi sáng trong đêm tối nữa. Ai hại ta thì sẽ bị trời trừng phạt”; là để luôn tự nhắc “mình là con cháu của đất, trời, nên không được than trời, trách đất. Phải chăm chỉ làm ăn. Phải sống biết ơn và sống theo luật trời. Trời cho mưa, nắng vừa đủ để con người có thóc lúa ăn. Vậy nên phải làm lễ (Ăn mừng lúa mới) để tạ ơn”. Luật trời dạy “Đá lớn trong ruộng là ngọc của ruộng. Cha mẹ già trong nhà là ngọc của nhà”. Con cháu phải bảo vệ, yêu thương, chăm sóc… Dải hoa văn mà người Lự gọi là “con suối uốn lượn” vòng quanh eo áo từ phía trước ra phía sau, được tô điểm, thêm các đồng tiền theo hình rẻ quạt. Như chợt nhớ ra điều gì đó, cụ hỏi “Con biết vì sao người Lự chỉ đàn bà, con gái mặc áo mái trời không?”. Tôi lắc đầu. Ông nói “Biết sao được. Ngay người Lự cũng nhiều người không biết”. Rồi cụ hỏi: Đàn bà có đi lính không? và tự trả lời: Không. Đàn bà có dong ngựa đi buôn đường xa không? Không. Đàn bà có đi núi săn bắn dài ngày không? Không. Họ luôn ở nhà nuôi con, dạy cháu. Trời cất vàng, bạc, ngọc ở đâu? Ở trong lòng đất. Chồng kiếm được tiền về đưa cho ai? Đưa cho vợ giữ... Ai là người rằm tháng bảy ra Hòn Méo thắp nến cầu xin trời, phật, thần linh phù hộ cho chồng, con đang đi đánh trận, đang đi làm ăn xa? Là các bà, các mẹ, các chị, các em cô. Thế đấy. Của quý thì trời phải chọn người cất giữ. Phụ nữ mặc thì họ đi đâu cũng mang mái trời của người Lự đến đó. Cả khi họ chết đi rồi cũng mặc áo mái trời đi lên mới được vào nhà trời; họ đi xuống lòng đất sâu thì các vị thần linh và mọi loài ở đó cũng mới biết họ là người Lự. Lại nói về luật trời nhé. Luật trời còn răn dạy con người phải luôn ghi nhớ công ơn người xếp đá dựng bản, người đắp đất lập mường. Lễ cúng mường (Căm Mường) phải mời họ về tạ ơn và dâng cúng lễ vật. Luật trời cũng răn dạy “Mường phải có tạo, có quản mường, bản phải có tạo bản để lo cho cuộc sống yên lành, no đủ cho dân”. Thế mới phải chứ. Đúng không?. Cụ Tao Văn Păn, là người hiếm hoi biết nhiều, nhớ nhiều, hiểu sâu về văn hóa của tộc người. Cụ Tao Văn Păn, là người hiếm hoi biết nhiều, nhớ nhiều, hiểu sâu về văn hóa của tộc người. Một hôm, giọng buồn buồn cụ nói với tôi, “Con xem, bây giờ ai hỏi gì về người Lự con cháu nó cứ bảo “Không biết, không biết. Các cụ gọi thế thì mình cũng gọi thế. Không biết, không biết, các cụ làm thế thì mình cũng làm thế...”. Không biết mà không hỏi, là không muốn biết. Không biết lại không muốn nghe, là điều ấy không quan trọng. Nhà mình ở, hỏi đến cái gì cũng không biết. Váy áo mình mặc che thân, khăn mình đội trên đầu, hỏi đến cái gì cũng không biết. Người mình bệnh, mẹ đất cho đủ loại cây thuốc trên rừng, dưới bãi, ven suối mà hỏi đến cây gì cũng không biết... Chắc đến một ngày, hỏi nó dân tộc gì, nó cũng bảo “không biết” ấy chứ. Buồn lắm”. Chuyến điền dã ấy của tôi dự định một tuần nhưng đã kéo dài một tháng. Hôm tôi về, cụ quyến luyến dặn “Đi đường cẩn thận. Mau về nhé. Ông còn nhiều chuyện muốn kể ”. Tôi động viên cụ “Ông phải sống khỏe nhé. Đợi con. Cuối năm về con sẽ tặng ông cái áo lông nhẹ và ấm như ông thích đấy”. Một tháng nhân duyên. Một cuộc gặp định mệnh. Tôi nghĩ thế, bởi sau đó cũng chỉ hơn một tháng, con cháu cụ nhắn tin cho tôi “Ông cháu đã mất rồi!”. Cụ đã rời đi, mang theo tầng chìm của văn hóa Lự. B ây giờ, trên nhà trời nhấp nháy muôn sao kia, cụ có đang kể cho Cứn hờn phà (người nhà trời) nghe chuyện cõi người không? Cái cõi mà cụ vừa được sống qua nhiều kiếp trong một kiếp ấy. Kiếp làm người rong ruổi theo chân ngựa bán bán - mua mua khắp các chợ phiên miền Tây Bắc; kiếp làm chàng trai hát rong đầu mường cuối bản; kiếp làm ông già ngồi kể chuyện dẫn ước mơ của lũ trẻ bé đi chơi khắp mường trời, mường đất bằng những câu chuyện cổ tích; dẫn tưởng tượng của lứa trẻ lớn vào miền yêu đương ngọt ngào và đắng đót qua những điệu dân ca tình yêu. Không biết cụ có mang theo cái nỗi buồn mà cụ luôn đau đáu lên đó không?!