Ban công trong phố

Với những ai yêu tha thiết Hà Nội thì không thể không để ý đến những ban công nhà. Ban công ở Hà Nội là một thế giới thu nhỏ đặc biệt. Có những ban công bé đến mức chỉ vừa một chậu hoa, có những ban công dài và hẹp, chạy dọc theo mặt tiền ngôi nhà tập thể loang lổ dấu thời gian.

Ban công không phải là căn phòng, cũng chưa hẳn là ngoài trời. Nó đứng giữa sự kín đáo và phơi bày, giữa riêng tư và khoe khoang ý nhị.

Tôi thường ngước lên nhìn những ban công khi đi chậm qua từng con phố cũ. Từ trên cao, đời sống thả xuống rất tự nhiên: Dây quần áo phất phơ trong gió, một chậu cây khi các đốm nâu và vàng lá đã úa viền, chùm hoa giấy sặc sỡ bừng lên, chiếc ghế gỗ bạc màu đặt sát tường, lồng chim cảnh im lặng giữa trưa...

Không ai cố tình trưng bày, cũng chẳng ai giấu giếm. Mọi thứ ở đó như thể đời sống tự bước ra, tự hiện diện như nó vốn vậy. Tôi thầm nghĩ, ban công, ở một nghĩa nào đó là kiến trúc của sự lưỡng lự. Nó không hoàn toàn riêng tư, nhưng cũng chưa hòa vào không gian chung. Người Hà Nội từ xưa dường như đã quen sống giữa những ranh giới như thế. Không dứt khoát mở ra, cũng không quyết liệt khép chặt.

Ban công cũng là nơi lưu giữ ký ức gia đình. Tôi từng thấy những ban công có chậu hoa giấy nở đều qua năm tháng, như kể về bàn tay một người mẹ cần mẫn. Có ban công treo lồng chim, dấu hiệu của người cha thích buổi sáng bình yên. Có ban công đặt chiếc ghế nhỏ, nơi ông bà ngồi ngóng cháu con trở về mỗi chiều. Có ban công kê bàn trà nhỏ để cả gia đình nhỏ ríu rít hàn huyên sau một ngày dài.

Những sinh hoạt nhỏ ấy không ai ghi chép lại, nhưng là thói quen, là nếp sống làm nên một phần linh hồn Hà Nội. Ban công cũng là nơi để con người đếm đo thời tiết. Mưa phùn len qua lan can sắt, để lại mùi ẩm rất riêng. Nắng hanh hong khô chăn áo, gió mùa luồn qua những tán cây nhỏ. Ở ban công, người ta cảm nhận Hà Nội bằng da thịt, bằng những đổi thay rất tinh tế của trời đất. Mùa đông, trước khi ra đường, người mẹ thường ra ban công để cảm nhận thời tiết rồi quay vào chọn áo phù hợp cho con.

Ngày xưa, ban công giản dị và chừng mực. Lan can sắt uốn đơn sơ, đồ đạc ít ỏi. Ban công chủ yếu để trồng hoa và phơi phóng. Bây giờ, nhiều ban công ở những khu nhà tập thể cũ bị quây kín bằng lồng sắt, trở thành kho chứa đồ, gánh trên mình áp lực chật chội của đời sống đô thị. Nhưng dù bị lấn chiếm, ban công vẫn cố giữ một khoảng trống nào đó cho ánh sáng, gió, cho con người được ngẩng lên nhìn bầu trời.

Ban công cho phép chúng ta đứng yên tĩnh một mình nhìn xuống phố xá mà không bị cuốn vào dòng chảy ồn ã. Có người đứng sau rèm cửa, có người yên lặng sau chậu cây, vậy mà quan sát được phố phường. Ban công treo lơ lửng giữa trời và phố, như một câu thơ chưa viết xong, để ngỏ cho mỗi người tự hoàn tất bằng đời sống của mình.

Có lẽ vì thế mà khi nhìn những ban công Hà Nội, người ta vừa thấy được kiến trúc, vừa thấy được cách sống. Giữa bao biến động, những ban công ấy vẫn âm thầm tồn tại, như nhắc ta nhớ rằng sống giữa phố xá đông đúc, con người vẫn cần một khoảng riêng tư nhưng gợi mở như để giữ lại chính mình, cũng như để hòa mình vào đời sống ngoài kia.

Xem thêm