Đóng gói gạo xuất khẩu tại Nhà máy của Công ty TNHH MTV Lương thực Thạo Sơn, tỉnh An Giang. (Ảnh: TTXVN)
Đóng gói gạo xuất khẩu tại Nhà máy của Công ty TNHH MTV Lương thực Thạo Sơn, tỉnh An Giang. (Ảnh: TTXVN)

Vận hội mới cho tam nông

Trong bối cảnh nông nghiệp đứng trước yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 219-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Với những định hướng quan trọng về cơ chế, chính sách, Kết luận số 219-KL/TW được kỳ vọng là “đòn bẩy” tạo ra vận hội mới cho tam nông giai đoạn tới.

Sau hơn ba năm triển khai Nghị quyết 19-NQ/TW, thực tiễn phát triển nông nghiệp cho thấy những chuyển biến tích cực nhưng cũng bộc lộ rõ các hạn chế về khoa học công nghệ, liên kết chuỗi và tổ chức sản xuất cần sớm được giải quyết căn cơ, toàn diện.

Cơ chế vượt trội cho nông nghiệp công nghệ cao

Kết luận số 219-KL/TW nêu rõ động lực then chốt phát triển nhanh và bền vững nông nghiệp, nông thôn, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường chính là ưu tiên đầu tư, thử nghiệm, thí điểm các cơ chế, chính sách vượt trội cho các mô hình sản xuất nông nghiệp dựa trên khoa học-công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, thích ứng biến đổi khí hậu trong mọi khâu của quá trình sản xuất, bảo quản, chế biến, logistics và thương mại. Theo Vụ trưởng Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Văn Long, hiện hệ thống văn bản liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ khá đa dạng. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho khoa học-công nghệ trong nông nghiệp còn thấp, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển, chưa tạo động lực cạnh tranh và thu hút nhân tài... Chính vì vậy, gỡ “nút thắt” về khoa học-công nghệ là một trong những giải pháp trọng tâm để tạo ra xung lực mới cho toàn ngành.

Sau hơn ba năm triển khai Nghị quyết 19-NQ/TW, thực tiễn phát triển nông nghiệp cho thấy những chuyển biến tích cực nhưng cũng bộc lộ rõ các hạn chế về khoa học công nghệ, liên kết chuỗi và tổ chức sản xuất cần sớm được giải quyết căn cơ, toàn diện.

Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed (ThaiBinh Seed) Trần Mạnh Báo cho rằng, việc có cơ chế, chính sách vượt trội cho nông nghiệp công nghệ cao vô cùng quan trọng, trong đó cần thiết lập cơ chế phối hợp “công-tư” hiệu quả giữa các viện-doanh nghiệp-nông dân để thúc đẩy đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thời gian qua, ThaiBinh Seed kiên định định hướng lấy khoa học-công nghệ làm động lực tăng trưởng, đầu tư mạnh mẽ cho hoạt động nghiên cứu nhằm đem đến những giống cây trồng năng suất cao, chất lượng ổn định, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Công ty hiện là một trong những doanh nghiệp khoa học-công nghệ tiên phong trong lĩnh vực giống cây trồng, ghi dấu ấn với gần 8.000 ha vùng nguyên liệu, gần 30.000 tấn giống mỗi năm mang lại giá trị thiết thực cho đối tác và hàng vạn hộ nông dân cả nước.

Hướng tới dẫn đầu khu vực và thế giới

Để thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, nâng cao khả năng cạnh tranh, tiếp cận đa dạng thị trường thì một trong những giải pháp cốt lõi là hình thành đội ngũ doanh nghiệp lớn mạnh dẫn dắt các ngành hàng chủ lực xây dựng thương hiệu quốc gia và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, Kết luận số 219-KL/TW đề ra nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp phát triển, mục tiêu đến năm 2030 có một số doanh nghiệp nông nghiệp dẫn đầu khu vực và thế giới. Hiện nay, các ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu cao đều có sự hiện diện của các doanh nghiệp có chuỗi sản xuất-chế biến-tiêu thụ khép kín, có tiềm lực tài chính, công nghệ và nhân lực đủ mạnh để vươn ra thị trường quốc tế. Với vai trò là ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn, thủy sản là lĩnh vực có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao trên toàn cầu. Năm 2025, ngành thủy sản ghi dấu ấn đậm nét với kim ngạch đạt hơn 11 tỷ USD. Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) Nguyễn Hoài Nam thông tin: Việt Nam được đánh giá là quốc gia có công nghệ chế biến thủy sản hiện đại, nhất là trong ngành hàng tôm với nhiều doanh nghiệp hàng đầu như Công ty cổ phần Thủy sản Sóc Trăng (Stapimex), Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (Minh Phu Seafood Corp), Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (Fimex VN)… Đây cũng chính là những “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng của lĩnh vực thủy sản trong nhiều năm qua.

Đối với rau quả, một ngành hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh với kim ngạch đạt hơn 8,5 tỷ USD trong năm 2025, cũng ghi nhận nhiều doanh nghiệp tiên phong đầu tư vùng nguyên liệu, chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng. Theo Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình, để ngành hàng rau quả tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững thì đội ngũ doanh nghiệp đóng vai trò chủ công. Khi doanh nghiệp mạnh về tổ chức sản xuất, đầu tư chế biến và phát triển thị trường thì nông sản mới có thể đi vào các chuỗi giá trị toàn cầu, nhất là trong điều kiện các quốc gia nhập khẩu đang tăng cường các biện pháp kiểm dịch thực vật và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng. Vì vậy, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, gắn kết chặt chẽ với nông dân và hợp tác xã, từ đó hình thành các chuỗi liên kết ổn định.

Nhờ lợi thế về đất đai, khí hậu và cơ cấu ngành hàng đa dạng, nông nghiệp Việt Nam hiện còn nhiều dư địa để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Để tận dụng tốt các lợi thế này, cần triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm theo Kết luận số 219-KL/TW về khoa học công nghệ, tín dụng nông nghiệp, phát triển thương hiệu ngành hàng, hỗ trợ doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ cho nông dân. Đây không chỉ là sự tiếp nối các định hướng lớn về tam nông, mà còn đóng vai trò như một khung định hướng chiến lược, tạo lực đẩy để tái cấu trúc sản xuất và gia tăng sức cạnh tranh cho nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới.

Xem thêm