1. Nằm trong kế hoạch biểu diễn phục vụ sân khấu học đường, cũng có lẽ vì đối tượng hướng tới nên vở không quá tham vọng về sự hoành tráng, độ lắt léo hay những diễn biến phức tạp. Trong chỉ khoảng 70 phút, được NSND Trung Hiếu và nghệ sĩ Việt Dũng dàn dựng, các nghệ sĩ bám chắc vào mạch sử để truyền tải rành mạch, sáng rõ quá trình tụ nghĩa, khởi binh của người hào kiệt xứ Thanh - Lê Lợi. Để qua gian nan, nguy khốn, được lòng người quy tụ, được nhân dân ủng hộ, bậc minh chủ lãnh đạo nghĩa quân dẹp tan giặc Minh, giành lại giang sơn bờ cõi, lên ngôi vua, mở ra triều hậu Lê rực rỡ.
Tác giả kịch bản - NSND Trung Hiếu cũng khéo chọn trường hợp Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn, sau đó là Lê Thận như những đại diện tiêu biểu của anh hào, nghĩa sĩ đến tìm đức minh chủ. Cũng như đã thể hiện lòng người nhiệt huyết, ân nghĩa lớn lao thông qua chuyện Lê Lai liều thân cứu chúa - đóng giả Lê Lợi xông ra trận tiền, nhận cái chết để thủ lĩnh và nghĩa quân phá vây, bảo toàn lực lượng cho chiến thắng sau này. Cùng với đó, kịch bản và diễn xuất cũng góp phần làm rõ nét một nhân vật Lê Lợi có tư thế thủ lĩnh, tác phong quyết đoán, lời lẽ hào sảng, cư xử ân nghĩa, xuyên suốt là ước vọng dân nước được tự do, độc lập, hòa bình.
Nhưng không thuần kể sử, vở diễn cũng lựa được những chi tiết mang màu sắc huyền thoại để “mềm hóa” cuộc khởi nghĩa và những chiến công, giúp không gian sân khấu, không khí vở diễn thêm thiêng liêng. Đó là chi tiết người nghĩa sĩ Lê Thận ba lần quăng lưới đều kéo về lưỡi gươm như một sự lạ, để sau này ghép với cán gươm trên ngọn cây cao, tượng trưng cho điềm trời trao việc lớn cho Lê Lợi dẹp giặc, cứu dân. Và đương nhiên, thật khó bỏ qua cảnh Vua Lê trả gươm cho rùa thiêng trên hồ Tả Vọng để hồ mang tên mới truyền đời - Hồ Hoàn Kiếm, bay lên mãi khát vọng thanh bình.
2. Vở khá thuyết phục và được tiếp nhận tốt với ngôn ngữ gọn gàng, lời thoại tạo không khí, nhất là tác phong diễn xuất nhịp nhàng, ăn khớp, động tác dứt khoát, tạo tính biểu tượng, làm dậy lên được không khí đấu tranh, sự quả cảm, kiên trung của những con người “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Xen trong đó, có cả những khoảnh khắc mềm mại, sâu lắng, hòa quyện giữa nợ nước - tình nhà, nghĩa nước non - tình bằng hữu, thủ túc. Hiệu quả này được góp phần tạo nên từ sự nối nhau của những màn diễn đông người với đối thoại đôi, ba nhân vật, từ chuyển động thưa thoáng sang động tác tập thể, đan chen, tạo khí thế sôi nổi, cuốn hút.
Cách sử dụng bục tạo tầng lớp cùng thiết kế xoay giúp tăng hiệu quả thị giác, giúp cho ở một số cảnh hội họp, chiến đấu, chiến thắng, thái bình, chỉ một lượng người không đông nhưng tạo cảm giác lấp đầy. Điểm cộng còn thể hiện qua âm nhạc hùng tráng, khẩn trương và trang phục mang sắc chủ đạo trầm, thẫm, dung dị, tạo không khí cổ trang gần gũi, tránh được sự sặc sỡ, lấp lánh, phô bày trên sân khấu.
3. Với ý nghĩa vở diễn hướng về học sinh, thanh thiếu niên của một đơn vị nghệ thuật Thủ đô, gắn liền với không gian văn hóa - di sản Hồ Gươm - tượng đài Vua Lê, hy vọng vở kịch “Huyền tích Hồ Gươm” sớm có nhiều dịp lưu diễn cho thế hệ trẻ trong và ngoài địa bàn Hà Nội. Cũng như nên chăng có sự sáng tạo, kết nối từ hoạt động tham quan, trải nghiệm ở di tích tượng đài đức vua, cho đến sống trong không khí lịch sử, huyền sử khi xem kịch trong nhà hát. Trải nghiệm qua sự song hành văn hóa-cảnh quan-lịch sử-nghệ thuật như thế, câu chuyện dạy sử, kể sử, giáo dục truyền thống cho học sinh sẽ trở nên hấp dẫn, cuốn hút và thêm được trân trọng. Nhà hát, các trường học, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo của thành phố, rất nên lưu ý phát huy cách làm này.