Cán bộ kiểm lâm Vườn quốc gia Xuân Liên và đội bảo vệ rừng thôn Thác Làng trong một chuyến tuần tra.
Cán bộ kiểm lâm Vườn quốc gia Xuân Liên và đội bảo vệ rừng thôn Thác Làng trong một chuyến tuần tra.

Tạo sinh kế, giúp người dân an tâm giữ rừng

Việc giữ được rừng hay không phụ thuộc nhiều vào đời sống của người dân sống gần rừng. Ở Vườn quốc gia Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, việc tạo sinh kế ổn định cho người dân vùng đệm đang trở thành nền tảng quan trọng để bảo tồn bền vững đa dạng sinh học.

Thôn Thác Làng, xã Vạn Xuân nằm cạnh con đường quanh co dẫn vào Vườn quốc gia Xuân Liên. Cụm thôn nhỏ chỉ vỏn vẹn 93 hộ dân này lại có tới 23 người tham gia đội bảo vệ rừng, con số hiếm gặp ở vùng đệm rừng đặc dụng. Trước chuyến đi tuần tra, ông Lê Hữu Tền lặng lẽ chuẩn bị ba-lô, gậy rừng. Ông là người có thâm niên lâu năm nhất thôn, gắn bó với công việc bảo vệ rừng từ năm 2003, khi Xuân Liên còn chưa được nhiều người biết đến như một “kho báu” đa dạng sinh học.

Hơn 20 năm bám rừng, ông Tền thuộc từng con suối, vạt cây, từng lối mòn, phiến đá... trong các khoảnh rừng giáp ranh. Đây cũng là công việc thường nhật của đội bảo vệ rừng Thác Làng. Mỗi tháng từ 8 đến 10 đợt tuần tra, tuyến gần đi về trong ngày, tuyến xa phải ngủ rừng qua đêm. Công việc vất vả nhưng đều đặn, gắn trách nhiệm của từng người với lợi ích chung của cộng đồng.

Cùng tổ với ông Tền, ông Lương Xuân Vụ, tham gia đội bảo vệ rừng từ năm 2017, cho biết mỗi chuyến tuần tra thường từ 6 đến 7 người. Với mức khoán 160.000 đồng/ha/năm, căn cứ theo diện tích bảo vệ thực tế, mỗi năm thôn Thác Làng có khoảng 250-300 triệu đồng để chi cho việc chung và công trình phúc lợi. Khoản tiền này không lớn, nhưng đủ để bà con yên tâm gắn bó với rừng, coi việc tuần tra là trách nhiệm lâu dài. “Thôn còn khó khăn. Nhờ có khoản này mà có thêm kinh phí trang trải nhiều việc, như tu sửa nhà văn hóa chẳng hạn”, ông Vụ chia sẻ.

Từ những bước chân âm thầm của người dân vùng đệm như ông Tền, ông Vụ, bức tranh bảo tồn ở Vườn quốc gia Xuân Liên dần hiện lên rõ nét. Vườn hiện được giao quản lý hơn 23.800 ha rừng đặc dụng và gần 1.000 ha rừng sản xuất, nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa hai vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Đây là nơi còn lưu giữ trên 5.000 ha rừng nguyên sinh, với nhiều cây cổ thụ hàng nghìn năm tuổi, đặc biệt là hai quần thể Pơ-mu và Sa-mu đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.

Theo ông Đào Thế Anh, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn phát triển sinh vật và Dịch vụ môi trường rừng, nghiên cứu khoa học là một trụ cột quan trọng trong công tác bảo tồn. Từ khi thành lập, Vườn quốc gia Xuân Liên đã triển khai 34 đề tài, dự án nghiên cứu, trong đó có các đề tài cấp quốc gia. Nhiều loài thực vật quý hiếm được bảo tồn nội vi và ngoại vi. Đáng chú ý, các nhà khoa học đã phát hiện 12 loài mới cho khoa học, trong đó có những loài mang tên Xuân Liên. Ông Đào Thế Anh nhấn mạnh: “Nghiên cứu khoa học không chỉ phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học mà còn mở ra hướng bảo tồn nguồn gen gắn với sinh kế lâu dài cho vùng đệm”.

Ông Phạm Anh Tám, Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Liên, cho rằng, bảo tồn chỉ bền vững khi gắn với cộng đồng và phát triển lâu dài. Xuân Liên không chỉ giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn hồ Cửa Đạt, cung cấp nước cho vùng hạ du rộng lớn, mà còn có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái với rừng nguyên sinh, thác nước, lòng hồ rộng 3.300 ha cùng bản sắc văn hóa Thái, Mường.

Thanh Hóa là một trong bốn vùng có mức độ đa dạng sinh học cao nhất cả nước, với các vườn quốc gia Bến En, Xuân Liên và một phần Vườn quốc gia Cúc Phương. Những năm qua, trên địa bàn tỉnh ghi nhận hàng nghìn loài động, thực vật rừng, trong đó có hàng trăm loài nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ, tạo nên hệ sinh thái rừng đặc dụng có giá trị lớn về môi trường và sinh kế.

Ở góc độ quản lý nhà nước, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa đã và đang giữ vai trò nòng cốt trong việc điều phối, triển khai các chương trình, dự án bảo tồn đa dạng sinh học. Từ năm 2021 đến nay, đơn vị đã tham mưu điều chỉnh phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2021- 2030, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong giám sát, bảo vệ rừng, đồng thời huy động nhiều nguồn lực cho công tác bảo tồn tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn trên địa bàn tỉnh.

Phó Chi cục Trưởng Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Cường nhấn mạnh: “Bảo vệ rừng và đa dạng sinh học chỉ bền vững khi người dân thật sự trở thành chủ thể tham gia quản lý. Thời gian qua, tỉnh đã triển khai các cơ chế như chi trả dịch vụ môi trường rừng, giao khoán và đồng quản lý rừng với cộng đồng, qua đó tạo nguồn lực ổn định để duy trì các tổ, đội bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng đệm. Khi người dân vừa có trách nhiệm, vừa được hưởng lợi chính đáng từ rừng, áp lực khai thác tài nguyên sẽ giảm, hiệu quả bảo tồn được nâng lên”.

Khi cộng đồng cùng chung trách nhiệm, khi sinh kế bền vững được mở ra cho người dân gắn với rừng, màu xanh đại ngàn mới có thể được gìn giữ cho hôm nay và các thế hệ mai sau.

Xem thêm