Ngày 5/1, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố thông tin về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025.
Cơ quan này nhận định, tình hình lao động, việc làm quý IV năm 2025 ghi nhận nhiều dấu hiệu tích cực. Cụ thể như: Lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động quý IV đều tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng gần 590 nghìn người so với năm trước; số người có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%.
LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TĂNG THÊM GẦN 590 NGHÌN NGƯỜI
Theo Cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý IV năm 2025 là 53,8 triệu người, tăng 488,7 nghìn người so với quý trước và tăng 690 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. So với quý trước, lực lượng lao động ở khu vực thành thị tăng 322,9 nghìn người và khu vực nông thôn tăng 165,7 nghìn người.
Tính chung cả năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,5 triệu người, tăng khoảng 589,5 nghìn người so với năm 2024. Lực lượng lao động ở khu vực thành thị đạt 20,9 triệu người, chiếm 39,1% lực lượng lao động của cả nước; lực lượng lao động nữ đạt gần 25,1 triệu người, chiếm 46,8%.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý IV năm 2025 là 68,7%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới là 63,2% và của nam giới là 74,4%. Tỷ lê ̣tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 66,3%, thấp hơn 3,9 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn (70,4%).
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung cả năm 2025 là 68,6%, tương đương giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm 2024. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới là 74,3%, của nữ giới là 63,0%, trong khi đó khu vực thành thị, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 66,4%, thấp hơn 3,6 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn (70,0%).
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV năm 2025 là 29,5%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy chất lượng nguồn lao động ngày càng được cải thiện.
Tính chung năm 2025, lực lượng lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước tính đạt 29,2%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với năm trước.
Cũng theo cơ quan thống kê quốc gia, lao động có việc làm quý IV năm 2025 đạt 52,7 triệu người, tăng 477,5 nghìn người, tương ứng tăng 0,9% so với quý trước và tăng 656,2 nghìn người, tương ứng tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng việc làm của quý IV năm 2025 cao hơn so với những năm trước trong giai đoạn 2021-2025 (ngoại trừ năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19).
Khu vực thành thị vẫn đóng vai trò tạo động lực chính cho tăng trưởng của thị trường lao động. Số lao động có việc làm của khu vực này trong quý IV năm 2025 là 20,7 triệu người (chiếm 39,3%), tăng 384,2 nghìn người so với quý trước và tăng 593,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung năm 2025, lao động có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,12%) so với năm 2024 và tăng chủ yếu ở khu vực thành thị. Số lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 20,4 triệu người, tăng 2,6% (tương ứng tăng 518,1 nghìn người), đóng góp khoảng 90% vào mức tăng lao động có việc làm của toàn quốc; có việc làm ở khu vực nông thôn là 32 triệu người, tăng 0,2% (tương ứng tăng 60,2 nghìn người).
TỶ LỆ LAO ĐỘNG CÓ VIỆC LÀM PHI CHÍNH THỨC GIẢM
Trong quý IV năm 2025, lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) là 32,7 triệu người. Tỷ lệ lao động phi chính thức chung trong quý IV đạt 61,9%, giảm 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung năm 2025, số lao động có việc làm phi chính thức chung là 33,1 triệu người, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung là 63,1%, giảm 1,4 điểm phần trăm so với năm 2024. Mặc dù vẫn duy trì ở mức đáng kể, sự suy giảm tỷ lệ lao động phi chính thức cho thấy những tín hiệu cải thiện của thị trường lao động theo hướng chính thức hóa.
Song hành với đó, việc nhiều doanh nghiệp từng bước ổn định hoạt động, tạo nền tảng cho việc mở rộng cơ hội việc làm chính thức trong thời gian tới và hiệu lực của các chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động ngày càng phát huy hiệu quả, qua đó mở rộng cơ hội việc làm chính thức và tăng cường an sinh xã hội.
Trong quý IV năm 2025, các hoạt động kinh tế chủ yếu của nước ta tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng, thể hiện qua kết quả tương đối tích cực của thương mại quốc tế, tiến độ giải ngân đầu tư công, sản xuất công nghiệp và sự ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh đó, thị trường lao động nhìn chung ổn định, song vẫn xuất hiện một số dấu hiệu cần theo dõi khi tình trạng thiếu việc làm của người lao động có xu hướng tăng nhẹ so với quý trước và cùng kỳ năm trước, dù mức tăng này khá thấp.
Cụ thể, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV năm 2025 khoảng 784,1 nghìn người, tăng 88,3 nghìn người so với quý trước và tăng 19,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với tỷ lệ 1,67%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị là 1,27%, thấp hơn so với khu vực nông thôn (1,94%).
Tính chung năm 2025, số người thiếu việc làm trong độ tuổi là 772,5 nghìn người, giảm 81,3 nghìn người so với năm trước, tương ứng với tỷ lệ thiếu việc làm là 1,65%, giảm 0,2 điểm phần trăm, phản ánh xu hướng ổn định của thị trường lao động trong bối cảnh nền kinh tế duy trì mục tiêu tăng trưởng. Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn (tương ứng là 1,25% và 1,93%).
Trong tổng số 784,1 nghìn người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở quý IV/2025, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất với 45,0% (tương đương 352,7 nghìn người); tiếp đến là khu vực dịch vụ với 33,8% (tương đương 265,0 nghìn người); thấp nhất là khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 21,2% (tương đương 166,3 nghìn người). So với quý trước, số lao động thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 24,2 nghìn người; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 46,7 nghìn người; và khu vực dịch vụ tăng 17,5 nghìn người.
THU NHẬP BÌNH QUÂN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐẠT 8,4 TRIỆU ĐỒNG/THÁNG
Trong quý IV năm 2025, thu nhập bình quân tháng của người lao động tiếp tục tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước, phản ánh đời sống của người lao động được cải thiện rõ rệt.
Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý IV năm 2025 là 8,7 triệu đồng, tăng 323 nghìn đồng (tương ứng tăng 3,9%) so với quý trước và tăng 508 nghìn đồng (tương ứng tăng 6,2%) so với cùng kỳ năm trước.
Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao gấp 1,32 lần thu nhập bình quân tháng của lao động nữ (9,8 triệu đồng so với 7,4 triệu đồng). Thu nhập bình quân tháng của lao động ở khu vực thành thị cao gấp 1,38 lần khu vực nông thôn (10,4 triệu đồng so với 7,6 triệu đồng).
Mức tăng thu nhập trong quý IV năm 2025 cao hơn so với mức tăng ở quý trước (3,9% so với 1,3%) phù hợp với đặc thù những tháng cuối năm, khi nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo điều kiện gia tăng việc làm và thu nhập của người lao động.
Tính chung năm 2025, thu nhập bình quân tháng của người lao động là 8,4 triệu đồng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng so với năm trước. Thu nhập bình quân tháng của lao động nam gấp 1,32 lần thu nhập bình quân tháng của lao động nữ (9,5 triệu đồng so với 7,2 triệu đồng). Thu nhập bình quân tháng của lao động ở khu vực thành thị gấp 1,39 lần khu vực nông thôn (10,1 triệu đồng so với 7,3 triệu đồng).
TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG GIẢM SO VỚI NĂM 2024
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2025 khoảng 1,07 triệu người, tăng 13,1 nghìn người so với quý trước và tăng 16,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2025 là 2,22%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và tương đương tỷ lệ cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị tiếp tục duy trì dưới mức 3%9. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, và tình hình xuất nhập khẩu và du lịch tiếp tục khởi sắc góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp cả nước trong quý này.
Tính chung năm 2025, cả nước có khoảng 1,06 triệu người thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tăng 2,8 nghìn người so với năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm trước. Như vậy, tình hình thất nghiệp năm nay ở Việt Nam cải thiện hơn so với năm trước, tuy nhiên vẫn dao động quanh mức 2,2% như thời kỳ trước dịch Covid-19 xuất hiện.
Trước đó, theo đánh giá của Bộ Nội vụ, trong năm 2025, lĩnh vực lao động-việc làm có nhiều kết quả nổi bật, góp phần quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế-xã hội của cả nước.
Tuy nhiên, một trong những tồn tại, hạn chế là thị trường lao động phát triển chưa đồng đều, còn tình trạng mất cân đối cung-cầu lao động cục bộ giữa các vùng miền, khu vực, ngành nghề kinh tế, giữa các loại lao động khác nhau (lao động phổ thông, lao động quản lý, lao động trình độ kỹ thuật cao,…); chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế. Người lao động thiếu trình độ chuyên môn, ngoại ngữ , tác phong công nghiệp để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và thích ứng với các công việc, ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao.
Do đó, trong năm tới, ngành nội vụ đề xuất, cần tăng cường kết nối cung cầu, phát triển mạnh thị trường lao động; làm tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động và tăng cường quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Cơ quan này cũng nhấn mạnh tới việc thúc đẩy tạo việc làm bền vững, sử dụng lao động hiệu quả thông qua các chương trình, đề án, chính sách tín dụng hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ người lao động tham gia thị trường lao động. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách, chương trình, đề án về hỗ trợ giải quyết việc làm trong nước; chú trọng giải quyết việc làm cho thanh niên, lao động trung niên, lao động yếu thế và lao động nữ; chuyển dịch nhanh lao động có việc làm phi chính thức sang việc làm chính thức; chú trọng hỗ trợ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp và lao động vùng biên. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quản lý chất lượng, hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm; đầu tư phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm công lập, thiết lập cơ chế để các trung tâm dịch vụ việc làm công lập trở thành một định chế thực thụ của thị trường, tham gia vào thị trường và trở thành công cụ quản lý nhà nước đối với thị trường lao động và bảo đảm quyền lợi cho người lao động.