Nông dân Cần Thơ sử dụng máy bay không người lái (drone) phun xịt phân, thuốc trên cánh đồng lúa chất lượng cao.
Nông dân Cần Thơ sử dụng máy bay không người lái (drone) phun xịt phân, thuốc trên cánh đồng lúa chất lượng cao.

CÙNG SUY NGẪM

Hỗ trợ nông dân trồng lúa chất lượng cao

Thực hiện đề án một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thành phố Cần Thơ được giao triển khai vùng sản xuất 170.000ha.

Vụ đông xuân 2025-2026, thành phố có hơn 104.000ha, với 171 tổ hợp tác, hợp tác xã ở 64 xã, phường tham gia trồng lúa theo đề án này.

Từ năm 2024 đến nay, Cần Thơ đã thí điểm triển khai 12 mô hình trồng lúa chất lượng cao (50 ha/mô hình), đạt nhiều kết quả tích cực. Các mô hình này giúp giảm 40-50% lượng giống gieo sạ, giảm hơn 30% lượng phân đạm, giảm 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật; năng suất tăng 0,3-0,7 tấn/ha, lợi nhuận tăng ít nhất 20% so với canh tác truyền thống, đồng thời, lượng phát thải khí nhà kính giảm từ 2-12 tấn CO2/ha, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.

Hiệu quả của các cánh đồng thí điểm đã rõ, nhưng khi triển khai nhân rộng trồng lúa chất lượng cao, phát thải thấp gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nông dân là mắt xích quan trọng nhất của chuỗi sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, nhưng lại là khâu yếu nhất trong chuỗi giá trị.

Điều nông dân, các hợp tác xã lo lắng nhất là thiếu vốn đầu tư sản xuất theo quy trình lúa chất lượng cao vì phần lớn tài sản của họ là đất đai đã được thế chấp vay ngân hàng trước đây. Vì thế, họ không còn tài sản bảo đảm để vay tiếp, trong khi sản xuất lúa theo mô hình này cần đầu tư nhiều máy móc, thiết bị chuyên dụng đắt tiền.

Ngoài ra, việc liên kết theo chuỗi giá trị còn yếu, lỏng lẻo. Doanh nghiệp thường chỉ đầu tư bao tiêu vào vụ đông xuân hằng năm vì đây là vụ lúa có năng suất, chất lượng tốt dễ bán, còn các vụ hè thu, thu đông, doanh nghiệp ít tham gia bao tiêu cho nông dân, hợp tác xã vì rủi ro cao. Trong khi đấy, sản xuất của nông dân vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho việc áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa và hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, chất lượng cao.

Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi tại Cần Thơ chưa đồng bộ và khép kín, gây khó khăn cho việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ, một trong những giải pháp quan trọng để giảm phát thải khí nhà kính; hệ thống giao thông nội đồng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả sản xuất. Việc áp dụng cơ giới hóa, quản lý dữ liệu, và các quy trình giảm phát thải, còn hạn chế do năng lực tiếp cận và trình độ của nhiều nông dân, hợp tác xã.

Ngoài ra, dưới tác động của biến đổi khí hậu khiến hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở diễn biến phức tạp, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp mà người chịu thiệt hại trước tiên là nông dân.

Nông dân, các hợp tác xã mong muốn Chính phủ, các cấp, ngành, địa phương có chính sách tín dụng ưu đãi, cho vay với lãi suất thấp hoặc hỗ trợ vốn ban đầu cho các hợp tác xã đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị cơ giới hóa và công nghệ giảm phát thải (máy sạ hàng, máy cấy, thiết bị đo đạc...); có các chính sách bảo hiểm lúa gạo thích ứng rủi ro biến đổi khí hậu (hạn, mặn, sâu bệnh) để họ yên tâm chuyển đổi sang phương thức sản xuất mới.

Ngoài hỗ trợ kỹ thuật, máy móc các hợp tác xã, tổ hợp tác, thành phố Cần Thơ cần tập trung tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, đồng thời liên kết với doanh nghiệp bao tiêu theo hình thức hợp tác công-tư, kết nối các hợp tác xã với các doanh nghiệp lớn để ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với mức giá thu mua cao hơn lúa thường.

Song song đó, thành phố cần ưu tiên nguồn vốn đầu tư nâng cấp và hoàn thiện hệ thống giao thông, thủy lợi để bảo đảm chủ động nguồn nước cho việc áp dụng quy trình kỹ thuật trồng lúa chất lượng cao, phát thải thấp; khuyến khích, hỗ trợ nông dân thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới để hình thành vùng nguyên liệu lớn, đồng nhất, dễ dàng áp dụng cơ giới hóa và quản lý chất lượng; hỗ trợ nông dân, hợp tác xã ứng dụng công nghệ số để minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất, giúp người tiêu dùng tin tưởng và sẵn sàng chi trả cho sản phẩm chất lượng cao, phát thải thấp; xây dựng, hướng dẫn phương pháp đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải carbon theo chuẩn quốc tế, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy khi giao dịch tín chỉ carbon để nhiều nông dân được hưởng lợi từ cánh đồng giảm phát thải.

Xem thêm