Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tác động đến đời sống, sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tác động đến đời sống, sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương trình cấp thiết mong tiếp sức đất chín rồng

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản lớn nhất cả nước, đồng thời là không gian sinh kế và văn hóa sông nước đặc trưng. Trước sức ép ngày càng lớn của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, khoa học và công nghệ được xác định là nền tảng cho phát triển bền vững toàn vùng.

Trong bối cảnh xâm nhập mặn khó lường

Những năm gần đây, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra sớm hơn, sâu hơn và khó lường hơn. Nhiều tuyến sông, kênh, rạch bị nhiễm mặn kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của người dân. Cùng với đó, tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển gia tăng cả về quy mô và mức độ, đe dọa an toàn dân cư và hạ tầng kinh tế-xã hội.

Trước những thách thức mang tính hệ thống này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương lớn nhằm định hướng phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long gắn với thích ứng biến đổi khí hậu. Từ Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đến các nghị quyết, chương trình hành động của Bộ Chính trị và Chính phủ, yêu cầu xuyên suốt là bảo đảm an ninh nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển kinh tế-xã hội hài hòa.

Trong chuỗi chính sách đó, việc Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” giai đoạn đến năm 2030, mã số KC.15/21-30, được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển vùng. Chương trình KC.15/21-30 hướng tới cung cấp luận cứ khoa học, giải pháp, mô hình và công nghệ nhằm giúp Đồng bằng sông Cửu Long chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, thích ứng với các tác động từ thượng nguồn sông Mê Công, qua đó phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, văn minh sinh thái và hội nhập.

Khác với các nghiên cứu đơn lẻ trước đây, chương trình được thiết kế theo cách tiếp cận tích hợp, liên ngành và gắn chặt với yêu cầu thực tiễn. Các nội dung nghiên cứu không chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp, mà mở rộng sang quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển xã hội hài hòa và nâng cao năng lực quản trị vùng.

Tránh tính tình thế và ngắn hạn

Theo đánh giá của Ban Chủ nhiệm Chương trình, việc triển khai KC.15/21-30 là hết sức cần thiết trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và sụt lún đất. Chương trình được kỳ vọng sẽ cung cấp cơ sở khoa học đáng tin cậy để xây dựng các giải pháp thích ứng dài hạn, tránh ứng phó mang tính tình thế, ngắn hạn.

Khoa học và công nghệ sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp dữ liệu, mô hình dự báo và bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách. Từ công nghệ quan trắc, cảnh báo sớm thiên tai, đến ứng dụng viễn thám, hệ thống thông tin địa lý và trí tuệ nhân tạo trong theo dõi tài nguyên đất, nước và diễn biến môi trường, các giải pháp khoa học giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng lực chống chịu của toàn vùng. Bên cạnh đó, khoa học và công nghệ còn là nền tảng để chuyển đổi mô hình sản xuất và sinh kế. Các nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi chịu mặn, chịu hạn; mô hình nông nghiệp thông minh, tiết kiệm nước; hay các giải pháp nuôi trồng thủy sản công nghệ cao được xem là chìa khóa để ổn định đời sống người dân trong điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt.

Việc triển khai Chương trình KC.15/21-30 có nhiều thuận lợi khi nhu cầu thực tiễn từ các địa phương là rất rõ ràng. Hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia về biến đổi khí hậu của Việt Nam đã được củng cố trong những năm gần đây, đủ khả năng tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu quy mô lớn. Đồng thời, Đồng bằng sông Cửu Long cũng là khu vực nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và chuyển giao công nghệ.

Tìm nguồn lực và cơ chế

Tuy nhiên, theo Ban Chủ nhiệm Chương trình, có không ít khó khăn khi biến đổi khí hậu diễn biến nhanh và phức tạp, gây thách thức cho việc xây dựng các mô hình và giải pháp dài hạn. Nguồn lực tài chính và cơ chế tài chính cho nghiên cứu và triển khai còn hạn chế, trong khi nhiều giải pháp công nghệ đòi hỏi đầu tư lớn. Đặc biệt, tính liên ngành cao của chương trình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bộ, ngành và địa phương, điều không dễ trong thực tiễn thực thi.

Một vấn đề đáng lưu ý khác là từ khi có quyết định phê duyệt đến nay, các hoạt động của chương trình mới ở giai đoạn khởi động, chưa phát huy hết vai trò của Ban Chủ nhiệm do còn vướng về thể chế quản trị và cơ chế vận hành. Đây được xem là “nút thắt” cần sớm được tháo gỡ để chương trình có thể triển khai đúng tiến độ và đạt hiệu quả như kỳ vọng. Ban Chủ nhiệm Chương trình cho rằng cần sớm làm rõ phương hướng, kế hoạch triển khai cụ thể cho giai đoạn còn lại. Việc hoàn thiện thể chế, phân cấp, phân quyền rõ ràng và bảo đảm nguồn lực tài chính phù hợp được xem là điều kiện tiên quyết để phát huy vai trò của chương trình.

Dù còn nhiều thách thức, Chương trình KC.15/21-30 vẫn được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng khoa học quan trọng, kết nối các nguồn lực nghiên cứu trong nước và quốc tế, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý, quy hoạch và ra quyết định phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong dài hạn.

Đáng chú ý, chương trình đặt ra yêu cầu cao về tính ứng dụng, với tối thiểu 80% kết quả nghiên cứu phải được đưa vào thực tiễn, khoảng 50% nhiệm vụ có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc địa phương và ít nhất 30% nhiệm vụ tạo ra sản phẩm sở hữu trí tuệ. Đây là cách tiếp cận thể hiện rõ tinh thần nghiên cứu để phục vụ phát triển, lấy hiệu quả ứng dụng làm thước đo.

Xem thêm