Dự án Apple Ipad nhằm phát triển năng lực số bằng tiếng Anh ở một số trường tại Hà Nội. Ảnh: NSHN
Dự án Apple Ipad nhằm phát triển năng lực số bằng tiếng Anh ở một số trường tại Hà Nội. Ảnh: NSHN

Dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai:

Thiếu giáo viên là "nút thắt" lớn

Quá trình thực hiện việc triển khai dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai ở các trường phổ thông (ESL) gặp trở ngại lớn khi nguồn giáo viên chưa đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng.

Mặc dù điều này được kỳ vọng tạo chuyển biến mạnh mẽ về năng lực ngoại ngữ cho học sinh, phù hợp yêu cầu hội nhập. Thực tế đó đòi hỏi giải pháp đồng bộ để bảo đảm mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường.

Quyết tâm nhập cuộc

Năm học 2025-2026, Trường THCS Cầu Giấy, một trường trọng điểm và chất lượng cao của thành phố Hà Nội đã chọn chủ đề “tiên phong, sáng tạo”, mạnh dạn đưa ESL vào trường học. Ưu điểm nổi trội của trường là cả học sinh và đội ngũ giáo viên có năng lực tốt nên khả năng thích nghi nhanh. Việc thay đổi được thể hiện từ phương pháp giảng dạy như tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) ở một số tiết tự chọn, cụ thể là dạy STEM, kỹ năng đọc bằng tiếng Anh, các tiết chuyên đề dạy các môn Địa lý, Khoa học, Toán bằng tiếng Anh. Cách thức kiểm tra đánh giá cũng theo chuẩn quốc tế. Đến các hoạt động trải nghiệm mỗi tuần một lần bản tin “Cau Giay On the Go” được các học sinh truyền tải bằng tiếng Anh…

Tương tự, tại Trường THCS Trần Duy Hưng (Hà Nội), từ tháng 9/2025, cũng đã triển khai mô hình giảng dạy song ngữ theo định hướng EMI (English as a Medium of Instruction) ở bộ môn Toán. Học sinh được tập trung tăng cường khả năng sử dụng tiếng Anh trong các chủ đề Toán học thông qua trò chơi, hoạt động nhóm và bài tập thực hành, đồng thời được tạo điều kiện tham gia các kỳ thi Toán quốc tế. Nhà trường cũng tham gia Dự án Apple iPad nhằm phát triển năng lực số bằng tiếng Anh trong nhiều môn học như Địa lý, Lịch sử, Khoa học Tự nhiên, Toán… Giáo viên linh hoạt giao nhiệm vụ, câu hỏi và hoạt động bằng tiếng Anh, tạo môi trường để học sinh sử dụng ngôn ngữ tự nhiên trong quá trình tìm kiếm thông tin, hợp tác nhóm và trình bày sản phẩm.

Đây là 2 trong tổng số 20 trường đầu tiên trên cả nước cùng tham gia Câu lạc bộ các trường định hướng ESL tại Việt Nam mà ở đó có thể học hỏi lẫn nhau. Với những gì các nhà trường đã và đang tiến hành, thể hiện sự quyết tâm rất cao, tuy nhiên chừng đó vẫn còn là chưa đủ. Cô Cao Thu Hương, Tổ trưởng bộ môn tiếng Anh, Trường THCS Cầu Giấy chia sẻ: “Để đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 cần lắm một môi trường học tập trong ngôn ngữ đó. Đồng nghĩa với việc phải xây dựng được một đội ngũ giáo viên không chỉ dạy tiếng Anh mà ở tất cả các môn học phải giảng dạy được bằng tiếng Anh. Công tác này tốn kém và mất rất nhiều thời gian, không phải một sớm, một chiều mà có thể làm được. Bên cạnh đó, việc thi cử chưa được cải tiến nên các nhà trường vẫn phải chú trọng dạy ngữ pháp. Điều đó đồng nghĩa với việc thời gian dành cho kỹ năng giao tiếp thực tế (nghe và nói) chưa tương xứng”.

Theo cô Nguyễn Huyền Trang, Hiệu trưởng Trường THCS Ngoại ngữ (Trường đại học Ngoại ngữ, đại học quốc gia Hà Nội), thiếu đội ngũ giáo viên đủ năng lực và thiếu nguồn lực hỗ trợ triển khai mô hình trường học định hướng ESL là thách thức lớn của việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. “Thực tế cho thấy, phần lớn giáo viên tiếng Anh hiện nay được đào tạo để dạy ngôn ngữ như một môn học, chứ chưa được chuẩn bị đầy đủ về phương pháp giảng dạy tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL), hay giảng dạy bằng tiếng Anh trong các môn học khác. Nhiều địa phương vẫn đang trong quá trình bồi dưỡng chuẩn năng lực, trong khi cơ sở vật chất, học liệu và môi trường ngôn ngữ trong trường học chưa đủ điều kiện để tạo nên sự thay đổi toàn diện. Ở một số nơi, việc thiếu giáo viên dẫn đến tình trạng dạy thay, dạy chéo môn, hoặc cắt giảm thời lượng học. Điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng và tính bền vững của chương trình. Bên cạnh đó, áp lực thi cử, phương pháp dạy học nặng ngữ pháp, cùng với tâm lý e ngại sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp của giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy các môn học khác cũng là những rào cản cần được tháo gỡ”, cô Nguyễn Huyền Trang nêu rõ.

23-1.jpg
Giờ đọc sách tiếng Anh tại Trường THCS Ngoại ngữ.

Cần xây dựng đội ngũ giáo viên linh hoạt

TS Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường, Trường đại học Ngoại ngữ đánh giá, giải bài toán thiếu giáo viên khi triển khai ESL đòi hỏi một cách tiếp cận hệ thống, nhiều tầng bậc và đồng bộ. Từ phân tích chính sách đến thực tiễn hiện trường, thầy Minh đề xuất 5 nhóm giải pháp then chốt.

Thứ nhất, cần phát triển đội ngũ giáo viên hiện có thông qua các chương trình đào tạo lại. Cụ thể là “song ngữ hóa” giáo viên bộ môn. Nhiều giáo viên Toán, Lý, Hóa hiện nay có nền tảng chuyên môn tốt, nhưng chưa tự tin về năng lực tiếng Anh. Những khóa bồi dưỡng ngắn hạn kết hợp giữa năng lực ngôn ngữ và phương pháp tích hợp (CLIL) sẽ giúp họ dần thích nghi với việc giảng dạy môn học bằng tiếng Anh mà không đánh mất độ sâu kiến thức.

Thứ hai, cần đầu tư vào đào tạo nguồn giáo viên mới. Các trường sư phạm cần chủ động mở chuyên ngành đào tạo giáo viên dạy môn học bằng tiếng Anh. Song song, nên khuyến khích mô hình hợp tác giữa trường đại học - trường phổ thông - phòng giáo dục để sinh viên sư phạm được thực hành trong môi trường ESL thực tế, từ đó tạo nguồn nhân lực bền vững.

Thứ ba, phải mở rộng mạng lưới nhân lực xã hội. Tình nguyện viên quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài, giáo viên đã nghỉ hưu, sinh viên sư phạm. Tất cả đều có thể trở thành những “mắt xích linh hoạt” giúp lấp đầy khoảng trống nhân sự, nhất là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa.

Thứ tư, chính sách giữ vai trò then chốt. Nếu không có chế độ thù lao, công nhận nỗ lực, giảm tải định mức và hỗ trợ môi trường làm việc, giáo viên sẽ khó gắn bó lâu dài. Cần những chính sách khích lệ thực chất để những người “dám đi tiên phong” cảm thấy được trân trọng và đồng hành.

Cuối cùng, công nghệ cần được phát huy đúng lúc. Các nền tảng học trực tuyến, ngân hàng học liệu số, AI hỗ trợ bài giảng, tất cả đều có thể giảm tải cho giáo viên, tăng cơ hội tiếp cận tài liệu chuẩn hóa và mở rộng phạm vi học tập vượt khỏi giới hạn lớp học truyền thống.

Là cơ sở đào tạo giáo viên chủ lực, trọng điểm và hàng đầu của cả nước, Trường đại học Sư phạm Hà Nội có trách nhiệm quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Thầy Trần Ngọc Giang, Trưởng Bộ môn Phương pháp dạy học, khoa tiếng Anh Trường đại học Sư phạm Hà Nội cho biết: Dựa trên các nhiệm vụ và giải pháp chung dành cho giáo dục đại học và đào tạo giáo viên, nhà trường tiến hành triển khai một số định hướng chính. Trong đó, trường hướng tới trở thành một trong những đơn vị nòng cốt dẫn dắt hệ sinh thái đào tạo tiếng Anh ở Việt Nam. Tiếp theo, nhà trường tập trung phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ. Các hoạt động khảo sát và đánh giá năng lực ngoại ngữ của giảng viên là cơ sở để thiết kế chương trình bồi dưỡng phù hợp. Không chỉ giảng viên tiếng Anh mà giảng viên các ngành khác cũng cần được nâng cao năng lực ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu dạy học bằng tiếng Anh theo lộ trình của Đề án.

Bên cạnh đó, nhà trường chủ động cập nhật đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng. Việc phát triển hệ thống học liệu, bao gồm học liệu số và hệ thống bài giảng trực tuyến, sẽ giúp nâng cao khả năng cung ứng và đáp ứng số lượng lớn giáo viên cần đào tạo. Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường năng lực giao tiếp cho người học luôn được đặt ở vị trí trung tâm.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác và liên kết là giải pháp quan trọng để mở rộng nguồn lực. Trường đã, đang và không ngừng đẩy mạnh liên kết giữa đào tạo đại học, phổ thông và mầm non nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong việc chuẩn bị nguồn giáo viên cho mọi cấp học. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm giúp nhà trường tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy.

Xem thêm