Hiện tượng thời tiết cực đoan buộc các đô thị phải thay đổi cách ứng phó, tăng khả năng chống chịu trước mỗi thảm họa. Ảnh THÀNH ĐẠT
Hiện tượng thời tiết cực đoan buộc các đô thị phải thay đổi cách ứng phó, tăng khả năng chống chịu trước mỗi thảm họa. Ảnh THÀNH ĐẠT

Góc nhìn

Phải có cuộc cách mạng về tư duy, lý luận và kỹ thuật

Các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu, với mức độ, cường độ vượt xa so dự báo, liên tục thách thức sức chống chịu của các đô thị Việt Nam.

Trong khi, vốn được coi là "tấm lá chắn" quan trọng, công tác quy hoạch và quản lý hạ tầng đô thị lại chưa đáp ứng tốc độ phát triển xã hội và yêu cầu thích ứng với thiên tai. Đây là nhận định của KTS Trần Ngọc Chính (ảnh bên), Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, khi trao đổi ý kiến với Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.

Thiếu cập nhật, chậm đổi mới

- Có ý kiến cho rằng, quy hoạch đô thị ở Việt Nam còn nhiều bất cập, thậm chí chưa theo kịp sự phát triển chung của xã hội, cũng như yêu cầu thích ứng với thiên tai. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào, thưa ông?

- Là một trong các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu, Việt Nam còn là quốc gia biển đảo nên tác động tiêu cực của những hiện tượng thời tiết cực đoan như nước biển dâng, bão lũ, ngập úng… ngày càng nghiêm trọng và luôn có diễn biến bất thường. Trong bối cảnh đó, để xã hội phát triển bền vững, quy hoạch đô thị là một trong những yếu tố nền tảng, đương nhiên công tác này phải tính đến khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, nhưng không thể chống lại mọi tác động cực đoan của thiên nhiên.

Thực tế cho thấy, tình trạng bão chồng bão, lũ nối lũ, mưa to bất thường kéo dài liên tục nhiều giờ như thời gian vừa qua là hiện tượng chưa từng xuất hiện trong các nghiên cứu quy hoạch trước đây. Chẳng hạn, quy hoạch chung xây dựng Thái Nguyên năm 1994, chúng tôi chỉ tính toán dựa trên dữ liệu bão lũ trong khoảng 100 năm trước đó và lên kịch bản ngập úng khi lượng mưa ở ngưỡng khoảng 200 mm. Nhưng đợt lũ lịch sử vừa qua ghi nhận lượng mưa lên đến 500-600 mm, cao gấp nhiều lần so phương án tính toán trước đây. Trong khi các hướng thoát lũ, thoát nước như sông Cầu, sông Công đều vượt ngưỡng, thậm chí tạo dòng chảy ngược vào các khu đô thị trung tâm.

Diễn biến thực tế đã thay đổi theo chiều hướng tiêu cực hơn rất nhiều. Song, việc các đô thị suy giảm, thậm chí mất khả năng chống chịu không thể đổ lỗi toàn bộ cho thiên nhiên. Cần thẳng thắn thừa nhận, trên thực tế quy hoạch đô thị còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới, chưa đáp ứng kịp tốc độ đô thị hóa nhanh, cũng như mức độ khắc nghiệt của thiên tai hiện nay.

Chúng ta chưa lường trước được đầy đủ các nguy cơ thiên tai đột biến. Trong khi các điều kiện quan trọng để giảm nhanh lượng nước mặt như: diện tích thảm thực vật, diện tích thấm nước, hệ thống hồ chứa đều bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa, bê-tông hóa quá nhanh. Và cũng có nơi bị ngập không phải vì mưa quá lớn mà vì hệ thống thoát nước suy giảm công năng đơn giản chỉ là do bị tắc, chưa được nạo vét thường xuyên.

Một phần nguyên nhân ngập lũ đô thị còn đến từ môi trường, từ việc rừng bị thu hẹp cho tới chuyện dung tích hồ chứa quá lớn, từ hàng trăm thủy điện lớn, nhỏ án ngữ trên thượng lưu các dòng sông đã làm giảm khả năng giữ nước tự nhiên; khi vận hành xả lũ bảo vệ hồ đập lại thiếu cảnh báo sớm khiến người dân bị động, gây thiệt hại lớn...

- Để gia tăng khả năng chống chịu, thích ứng biến đổi khí hậu, ở góc độ quy hoạch và xây dựng đô thị, theo ông, cần có giải pháp gì?

- Trước hết, theo tôi, cần thay đổi tư duy quy hoạch và tập trung vào giải pháp kỹ thuật như: Tính toán kỹ cao độ nền đô thị, xác định rõ mức thấp nhất để người dân xây dựng nhà trên vùng dễ ngập vẫn an toàn; Quy hoạch hệ thống thu gom và thoát nước bảo đảm năng lực tối ưu, duy trì khả năng thấm nước tự nhiên bằng thảm cây xanh, mặt nước. Đơn cử, tại Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011, các chuyên gia tư vấn quốc tế đã đề xuất tỷ lệ "vàng" với 30% diện tích dành cho xây dựng, 70% còn lại dành cho mặt nước và cây xanh. Nếu Thủ đô tôn trọng, thực hiện đúng quy hoạch đã được phê duyệt sẽ bảo đảm phát triển bền vững, dù phải hy sinh ít nhiều lợi ích kinh tế trước mắt.

Thứ đến, chúng ta cần gấp rút đổi mới lý luận, cập nhật tiêu chuẩn quy phạm trong quy hoạch, xây dựng. Nhiều tiêu chuẩn quy phạm hiện hành đã áp dụng từ vài chục năm trước, chưa tương thích biến đổi khí hậu. Việc cập nhật phải được thực hiện ngay và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan.

Quản trị đô thị cũng là yếu tố then chốt: Hệ thống thoát nước phải được quản lý liên tục, nạo vét định kỳ và thông suốt, kết hợp liên kết vùng giữa các đô thị và liên ngành giữa thủy lợi, xây dựng, môi trường.

Hiện nay, xu hướng "đô thị xanh", "đô thị thông minh" là tất yếu, kết hợp AI và công nghệ số để dự báo nước dâng, giúp người dân chủ động sơ tán, bảo vệ tài sản. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng dự báo chung, cần phải có bộ phận dự báo thời tiết riêng cho đô thị, chứ không chỉ dựa vào dự báo chung cho tất cả các vùng như hiện nay, nhằm giúp người dân chủ động thích ứng, giảm thiểu
thiệt hại.

s132d.jpg

Quy hoạch phải dự liệu tốt hơn các rủi ro khí hậu

- Sau những "bài test" vừa qua của biến đổi khí hậu đối với hàng loạt đô thị trên khắp cả nước, theo ông, nên chăng cần kịp thời cập nhật và thể chế hóa những điểm mới phát sinh từ thực tiễn cuộc sống?

- Đợt bão lũ vừa qua buộc chúng ta phải nhìn lại cách tiếp cận quy hoạch đô thị và nông thôn. Với người dân ở các vùng chịu thiên tai, thiệt hại không chỉ là tài sản mất mát mà còn là những tổn thương tinh thần kéo dài, điều này đòi hỏi quy hoạch phải dự liệu tốt hơn các rủi ro khí hậu.

Chính vì vậy, cần thể chế hóa đầy đủ những vấn đề thực tiễn phát sinh từ "bài test" của biến đổi khí hậu, từ cách tính toán cốt nền, bố trí không gian thoát lũ, đến tổ chức không gian an toàn cho cộng đồng... Quy hoạch và quản trị đô thị hiện nay chưa tiếp cận được hết mức độ khốc liệt của biến đổi khí hậu. Vì thế, luật pháp phải đi trước để phòng ngừa rủi ro. Mục đích là để Luật phải phù hợp với những điều thiên nhiên đã "chất vấn" chúng ta. Quy hoạch phải có tính thực tiễn cao, còn luật pháp phải là công cụ mạnh mẽ nhất để thực hiện điều đó.

- Khi đã có quy hoạch tổng thể quốc gia, bao gồm cả quy hoạch đô thị, làm thế nào để quản lý tốt việc thực hiện đúng quy hoạch đó, thưa ông?

- Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày một cực đoan, khả năng thích ứng của các đô thị hiện nay là thách thức mang tính cấp bách. Chúng ta không thể chống lại thiên nhiên, nhưng hoàn toàn có thể giảm thiểu tác động của nó đến đời sống người dân bằng cách nâng cao sức chống chịu của đô thị một cách toàn diện.

Thực tế, tác động của biến đổi khí hậu hiện quá lớn, vượt xa khả năng tính toán của các tiêu chuẩn thiết kế đô thị hiện hành. Trong quy hoạch, chúng ta đã tính đến liên kết vùng và liên kết ngành, nhưng các quy phạm và phương pháp quy hoạch đô thị hiện hành chưa thật sự có khả năng thích ứng một cách bền vững với những diễn biến khí hậu ngày một khắc nghiệt. Sự chậm đổi mới trong lý luận và quy chuẩn, tiêu chuẩn là nguyên nhân chính dẫn đến những bất cập hiện nay. Do đó, công tác quy hoạch ở Việt Nam cần một cuộc cách mạng về tư duy, lý luận và kỹ thuật.

Sau khi thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính lãnh thổ, chúng ta đang phải làm lại toàn bộ quy hoạch tổng thể quốc gia. Việc quản lý thực hiện theo đúng quy hoạch là yêu cầu tiên quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững.

Thứ nhất, yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải minh bạch hóa toàn bộ thông tin quy hoạch như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng... Quy hoạch tổng thể quốc gia cần phải xác định rõ ràng hệ thống đô thị, các trung tâm hành chính cấp tỉnh, kể cả các tỉnh giữ nguyên hay mới được sáp nhập, dựa trên ứng dụng công nghệ số, hệ thống bản đồ số.

Thứ hai, chính sách phân cấp, phân quyền là xác đáng nhưng cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng ở từng lĩnh vực cụ thể. Quy hoạch đô thị là một hoạt động khoa học tổng hợp quan trọng, có liên quan trực tiếp đến kinh tế-xã hội, văn hóa của người dân. Nếu phân cấp mà địa phương không đủ năng lực sẽ không bảo đảm chất lượng, tính đúng đắn khi triển khai quy hoạch từ cấp cao nhất xuống cơ sở.

Thứ ba, tăng cường kiểm tra, thanh tra và áp dụng chế tài nghiêm khắc để bảo đảm các phương án quy hoạch phải được thực hiện đúng theo quy hoạch tổng thể quốc gia đã được phê duyệt.

- Trân trọng cảm ơn ông! ■

Xem thêm