Ông Johnathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch Tập đoàn Liên Thái Bình Dương.
Ông Johnathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch Tập đoàn Liên Thái Bình Dương.

Doanh nhân Johnathan Hạnh Nguyễn:

"Hãy đến bây giờ, ở lâu và làm thật"

Từ ký ức đẫm nước mắt khi con nhỏ lâm bệnh thiếu thuốc men đến lời hứa trọn đời dốc sức cho quê hương, hành trình của ông Johnathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch Tập đoàn Liên Thái Bình Dương, chưa một lần rời xa hai chữ Việt Nam.

Suốt hơn bốn thập kỷ cống hiến, ông không chỉ mang về nguồn vốn và kinh nghiệm quốc tế, mà còn góp phần khẳng định một triết lý bền vững: Làm giàu phải gắn với trách nhiệm và thành công phải song hành cùng Tổ quốc. Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, ông đã có cuộc trò chuyện đầy tâm huyết với Báo Nhân Dân.

Thưa ông, ông trở về Việt Nam cùng gia đình vào những năm 1980. Ở thời điểm đó, đất nước còn đang phải chịu cảnh cấm vận, vô cùng thiếu thốn, trải nghiệm đó đã ảnh hưởng thế nào tới quyết định gắn bó lâu dài với quê hương của ông?

Những năm 1980 ấy, khi vừa trở về Việt Nam, ký ức đau đáu nhất đối với tôi chính là hình ảnh hai con nhỏ bị sốt xuất huyết mà gia đình không dễ dàng tìm được thuốc men điều trị. Hoàn cảnh thiếu thốn ấy không chỉ khiến tôi lo lắng cho con, mà còn thôi thúc tôi nghĩ xa hơn: Hàng triệu gia đình Việt Nam cũng đang phải đối diện với cảnh ngộ tương tự.

Chính khoảnh khắc ấy đã gieo vào tôi một sứ mệnh. Tôi tự nhủ, mình không thể chỉ trở về rồi rời đi, mà phải gắn bó, phải đóng góp để đất nước có thêm nguồn lực, có thêm cơ hội hội nhập với thế giới.

Từ một ký ức đầy nước mắt và lo âu của người cha, tôi biến nó thành động lực để suốt bốn thập kỷ qua kiên định chọn Việt Nam làm nơi cống hiến. Tôi luôn tin rằng, tình yêu nước đôi khi không chỉ được thể hiện bằng những lời nói, mà bằng những việc làm thiết thực: Đầu tư, kiến tạo, kết nối những giá trị quốc tế để quê hương có thêm sức mạnh phát triển.

Từ vị trí thanh tra tài chính tại công ty Boeing ở Mỹ với mức lương đáng mơ ước, điều gì khiến ông chọn con đường “ngược dòng” trở về một Việt Nam còn bị cấm vận và khó khăn và trong hành trình ấy, đâu là dấu ấn mà theo ông quan trọng hơn cả danh xưng “ông vua hàng hiệu”?

Tôi có thể chọn con đường ở Mỹ cho mình và gia đình, nhưng trong tim tôi luôn trăn trở: Mình là người Việt Nam, Tổ quốc còn khó khăn thì không thể nghĩ cho lợi ích cá nhân. Thời điểm đất nước còn bị cấm vận, càng nhiều thử thách thì càng thôi thúc tôi trở về, bởi tôi tin chính lúc gian nan, đất nước mới cần những người con có khả năng, có điều kiện dấn thân.

Tôi chọn “ngược dòng” vì niềm tin rằng, Việt Nam nhất định sẽ vươn lên. Bốn thập kỷ qua đã chứng minh lựa chọn ấy là đúng: Đất nước đổi thay và phát triển từng ngày và tôi hạnh phúc khi được góp một phần nhỏ bé trong hành trình ấy.

Dù rất trân trọng khi được truyền thông gọi là “ông vua hàng hiệu”, nhưng tôi xem dấu ấn quan trọng nhất không phải ở việc sở hữu bao nhiêu thương hiệu mà ở hành trình bền bỉ gần nửa thế kỷ góp phần mở cửa thị trường, đặt chuẩn mực mới và tạo niềm tin để Việt Nam hội nhập.

Những năm 1985-1995, khi đất nước còn bị cấm vận, khung pháp lý chưa rõ, tôi vẫn bỏ vốn và gọi bạn bè quốc tế cùng đầu tư vào những dự án tiên phong - từ đường bay, khách sạn 5 sao đến cửa hàng miễn thuế. Không ít dự án lỗ dài hạn, nhưng chúng tôi chấp nhận, để giữ uy tín với nhà đầu tư và quan trọng hơn, giữ niềm tin cho Việt Nam.

Một cột mốc tiêu biểu là Nhà ga quốc tế Cam Ranh (T2) được đưa vào vận hành ngày 30/6/2018 sau 19 tháng thi công - một tiến độ hiếm có trong lĩnh vực hạ tầng hàng không. Nhà ga nhận hai hạng mục của Giải Kiến trúc quốc gia 2018, lọt Top 5 Routes Asia Awards (2019, 2024) và được Skytrax vinh danh Top 10 sân bay sạch nhất thế giới (nhóm ≤25 triệu khách/năm) năm 2025.

Ông từng chia sẻ: “Tôi đã hứa với Trời, nếu con tôi được cứu sống, tôi sẽ dốc sức cho quê hương đất nước”. Ông đã thực hiện lời hứa ấy như thế nào trong sự nghiệp?

Lời hứa ấy với tôi không chỉ là một sự cầu nguyện trong khoảnh khắc sinh tử, mà đã trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời. Con được cứu sống, tôi coi đó là món nợ ân tình với quê hương. Sự sống ấy phải được đền đáp bằng hành động thiết thực, bằng những đóng góp cụ thể cho đất nước.

Gần 40 năm qua, tôi chưa bao giờ rời xa lời hứa này. Từ việc mở đường bay trong giai đoạn Việt Nam còn bị cấm vận, đến các dự án phát triển kinh tế… Mọi việc tôi làm đều xuất phát từ tâm nguyện: Mang tri thức, vốn liếng, quan hệ và kinh nghiệm quốc tế về phục vụ quê hương. Tôi luôn đặt lợi ích quốc gia song hành cùng lợi ích doanh nghiệp. Lời hứa đã trở thành trách nhiệm với đất nước - để mỗi dự án, mỗi công trình không chỉ mang lại lợi nhuận, mà còn góp phần tạo công ăn việc làm, đóng góp ngân sách, nâng cao vị thế Việt Nam trên bản đồ khu vực và quốc tế.

Ông đã nhận định thời điểm này là “cơ hội tốt nhất cho kiều bào trở về làm ăn tại Việt Nam”. Theo ông, lợi thế lớn nhất khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho doanh nhân toàn cầu là gì?

Lợi thế lớn nhất của Việt Nam hiện nay là sự kết hợp hiếm có giữa tốc độ tăng trưởng cao, môi trường đầu tư ngày càng minh bạch và chính sách ưu tiên cho đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và phát triển xanh. Việt Nam có dân số trẻ, chi phí lao động cạnh tranh, đồng thời tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do lớn giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường toàn cầu.

So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam nổi trội ở sự ổn định vĩ mô, chính sách mở cửa mạnh mẽ và hạ tầng logistics đang được đầu tư đồng bộ. Đây chính là thời điểm vàng cho kiều bào và các doanh nhân quốc tế - những ai đến sớm, có tầm nhìn dài hạn và gắn bó bền vững với Việt Nam - sẽ nắm bắt được cơ hội phát triển chưa từng có.

Nếu gửi một thông điệp tới cộng đồng doanh nhân Việt trên khắp thế giới, ông sẽ nói gì để họ thấy thôi thúc trở về, chung tay cùng quê hương?

Tôi nhìn thấy một Việt Nam đang mở ra chu kỳ cơ hội hiếm có. Một cơ chế chính sách đang thay đổi mạnh mẽ, một thị trường đang lớn nhanh, chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển về khu vực… Nếu có thời điểm để người Việt ở khắp năm châu “đi xa để về gần”, thì thời điểm ấy là bây giờ. Tôi kêu gọi anh chị em doanh nhân Việt ở khắp nơi quan tâm đầu tư về quê hương.

Hãy đến bây giờ, ở lâu và làm thật - vì đây không chỉ là cơ hội kinh doanh của đời người, mà còn là cơ hội để chúng ta trả ơn quê hương bằng những công trình để đời.

Để phát huy sức mạnh của cộng đồng doanh nhân kiều bào, theo ông, Nhà nước và xã hội cần tạo thêm những điều kiện gì?

Theo tôi, Việt Nam cần tập trung vào ba nền tảng then chốt:

1. Thể chế minh bạch, ổn định và dự báo được - đơn giản hóa thủ tục, pháp luật rõ ràng và thực thi công bằng để tạo sự tin cậy lâu dài.

2. Môi trường đầu tư cạnh tranh, phù hợp chuẩn quốc tế-chính sách đất đai, thuế, năng lượng và dữ liệu phải linh hoạt, gắn với xu thế chuyển đổi xanh và hội nhập toàn cầu.

3. Hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao-phát triển logistics, năng lượng, công nghệ số và đội ngũ nhân lực để hỗ trợ nhà đầu tư triển khai nhanh chóng, hiệu quả.

Đặc biệt, Nhà nước nên coi nhà đầu tư kiều bào như nhà đầu tư trong nước, không có sự phân biệt đối xử. Đây vừa là thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, vừa là động lực để doanh nhân Việt toàn cầu an tâm đưa vốn, tri thức và mạng lưới quốc tế về đóng góp cho quê hương.

Với hơn 40 năm kinh doanh và gắn bó cùng đất nước, ông kỳ vọng và muốn gửi gắm điều gì tới thế hệ doanh nhân trẻ?

Tôi đã đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc nhiều môi trường toàn cầu. Tôi hiểu rằng, sự táo bạo toàn cầu là điều rất hãnh diện, tự hào và là điều thế hệ doanh nhân trẻ hôm nay bắt buộc phải suy nghĩ đến. Thế giới thay đổi từng ngày, nếu không dám nghĩ lớn, dám cạnh tranh toàn cầu, các bạn sẽ lỡ cơ hội. Nhưng điều quan trọng hơn cả - và tôi luôn nhấn mạnh - chính là tinh thần gắn bó máu thịt với Tổ quốc. Dù thành công đến đâu ở xứ người, thì quê hương Việt Nam vẫn là nơi chờ đợi chúng ta trở về, cùng nhau đóng góp xây dựng.

Kỳ vọng của tôi ở thế hệ trẻ là hãy mang trí tuệ, công nghệ và nguồn lực quốc tế về cho đất nước. Mong ước lớn nhất của tôi là thấy lớp doanh nhân trẻ của Việt Nam vừa có đôi cánh mạnh để bay xa ra thế giới, vừa có trái tim giàu cảm xúc neo chặt nơi quê hương. Hãy làm giàu bằng trí tuệ và bản lĩnh, nhưng hãy biết gieo lại hạt giống yêu thương cho cộng đồng.