Trong suốt nhiều thập kỷ, doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) giữ vị trí then chốt trong các lĩnh vực chiến lược như năng lượng, tài chính, viễn thông, hạ tầng và an ninh kinh tế. Tính đến cuối năm 2024, cả nước còn 866 doanh nghiệp có vốn Nhà nước (không tính bốn ngân hàng thương mại nhà nước), quản lý tổng tài sản hơn 4,3 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu gần 1,95 triệu tỷ đồng, đóng góp khoảng 440 nghìn tỷ đồng cho ngân sách hằng năm.
Hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ
Hiện khối DNNN hiện nắm giữ khoảng 30% tổng tài sản toàn nền kinh tế và hơn 20% vốn đầu tư phát triển, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các ngành then chốt. Nhiều tập đoàn lớn như EVN, PVN, Viettel, VNPT… vẫn giữ vai trò trụ cột, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn như đại dịch Covid-19, khi khối này bảo đảm an ninh năng lượng, hạ tầng số và các cân đối lớn của nền kinh tế.
Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Phát triển doanh nghiệp (Bộ Tài chính), cho biết: “Hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của DNNN đã tăng lên 13% trong năm 2024, mức cao nhất trong các khu vực doanh nghiệp; hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA) đạt 6%, cao hơn cả khu vực tư nhân và FDI”.
Mặc dù vậy, như nhiều chuyên gia nhận định, hiệu quả hoạt động của khối DNNN vẫn chưa tương xứng với quy mô và nguồn lực nắm giữ. Các chuyên gia chỉ rõ, đặc tính “sợ sai, sợ trách nhiệm” vẫn là rào cản khiến nhiều lãnh đạo DNNN không dám đưa ra quyết định nhanh, đặc biệt trong bối cảnh cơ chế giám sát chồng chéo, quy trình kiểm soát rủi ro kéo dài.
“Nhiều DNNN vẫn hoạt động theo mô hình khép kín, chưa tạo được liên kết và hiệu ứng lan tỏa cho khu vực tư nhân. Vai trò dẫn dắt còn hạn chế, đặc biệt trong chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị”, bà Nguyễn Thu Thủy nhận định.
Bên cạnh đó là những vấn đề kéo dài về phân cấp, thủ tục đầu tư, cơ chế vốn, chậm đổi mới quản trị theo chuẩn mực quốc tế, tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn trì trệ, làm giảm tính cạnh tranh của khu vực quan trọng này. Những tồn tại kéo dài về quản trị, đầu tư dàn trải, chậm ra quyết định… đang đòi hỏi các giải pháp đột phá để khối DNNN phát huy đúng tiềm năng và vị thế.
Trong các mục tiêu phát triển giai đoạn 2025 - 2030, DNNN được kỳ vọng là lực lượng dẫn dắt các lĩnh vực chiến lược như chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu, công nghệ cao, năng lượng sạch, kinh tế xanh. Đây là những ngành có vai trò quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ở góc độ đầu tư công nghiệp cơ bản, DNNN là lực lượng tiên phong trong ứng dụng công nghệ, triển khai các dự án lớn đòi hỏi vốn đầu tư cao, thời gian thu hồi vốn dài, những lĩnh vực mà khu vực tư nhân khó có thể tham gia. Đó là lý do tại nhiều nền kinh tế lớn, vai trò của doanh nghiệp nhà nước vẫn luôn hiện diện trong các ngành mang tính nền tảng: năng lượng, giao thông, viễn thông, an sinh, hạ tầng đô thị…
Công điện 191/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (tháng 10/2025) yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước báo cáo toàn diện kết quả sản xuất kinh doanh, đề xuất giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, cho thấy quyết tâm tiếp tục đổi mới khu vực DNNN nhằm đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng GDP hơn 8%.
Phát huy vai trò “đầu tàu”
Dưới vai trò trụ cột của nền kinh tế, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trở nên đặc biệt cấp thiết, nhất là khi mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn. Tuy vậy, theo các chuyên gia, nhiều điểm nghẽn vẫn tồn tại và cần được xử lý sớm.
Trở ngại lớn nhất nằm ở năng lực quản trị. Nhiều DNNN vẫn duy trì mô hình điều hành cũ, hầu như không thay đổi trong hơn một thập kỷ, khiến bộ máy kém linh hoạt, sức cạnh tranh suy giảm và khó thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Không ít tập đoàn, tổng công ty chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn, dẫn tới tình trạng đầu tư dàn trải hoặc bỏ lỡ thời điểm vàng để nắm bắt cơ hội thị trường.
Ông Nguyễn Văn Chiến, thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho rằng:“Để hoạt động hiệu quả hơn, DNNN phải chuyển mạnh sang quản trị theo chuẩn mực quốc tế, tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước, đồng thời minh bạch hóa trách nhiệm của người đứng đầu”.
Theo nhiều chuyên gia, vấn đề cốt lõi của DNNN không nằm ở thiếu vốn, mà nằm ở chất lượng ra quyết định và năng lực quản trị rủi ro. Một số tập đoàn vẫn duy trì mô hình quản lý quá nhiều tầng nấc, làm tăng chi phí, giảm tốc độ xử lý công việc và làm mờ trách nhiệm cá nhân.
Ở một góc nhìn khác, ông Đặng Huy Đông, nguyên Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, điều kiện tiên quyết là "doanh nghiệp nhà nước cần một môi trường kinh doanh lành mạnh, khung khổ pháp lý minh bạch, dễ làm, dễ hiểu, không rủi ro công vụ".
Trên cơ sở đó, ông Đông đề xuất phải chuyển mạnh việc quản lý từ tiền kiểm, theo quy trình thủ tục sang hậu kiểm, quản lý theo kết quả đầu ra và nâng cao trách nhiệm giải trình.
"Tuyệt đối không được lấy một dự án thua lỗ để đánh giá, bởi kinh doanh lỗ-lãi là bình thường. Không hình sự hóa việc thua lỗ, trừ trường hợp có bằng chứng về tham nhũng, trục lợi cá nhân," ông Đông nhấn mạnh.
Nhìn từ góc độ thông lệ quốc tế, ông Lê Quang Thuận, Trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và chính sách kinh tế-tài chính, đưa ra các khuyến nghị dựa trên nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Cụ thể là bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Hội đồng quản trị và minh bạch hóa mục tiêu kinh doanh và kết quả hoạt động. Hơn nữa, doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong thực hiện trách nhiệm xã hội, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Theo đó, nhiều chuyên gia kiến nghị cần có cơ chế đột phá để tăng vốn điều lệ kịp thời cho các DNNN, đặc biệt là các ngân hàng thương mại nhà nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nước cần chủ động đa dạng hóa kênh huy động vốn từ thị trường như niêm yết trên sàn chứng khoán, phát hành trái phiếu và đẩy mạnh mô hình hợp tác công - tư (PPP).
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển cho thấy, để DNNN hoạt động hiệu quả, Nhà nước cần tập trung vào ba nguyên tắc: quản trị theo cơ chế thị trường, minh bạch hóa trách nhiệm và chuyên nghiệp hóa đại diện chủ sở hữu.
Chẳng hạn tại Thụy Điển, DNNN tạo ra khoảng 12% GDP, nhưng được vận hành theo nguyên tắc thương mại rõ ràng: tạo giá trị và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao. Nhà nước thoái vốn ở các doanh nghiệp thương mại hoạt động tốt, tập trung vào lĩnh vực nền tảng. Mô hình quản trị minh bạch, doanh nghiệp hoạt động như doanh nghiệp tư nhân nhưng đáp ứng yêu cầu phục vụ xã hội.
Còn tại Singapore, Temasek Holdings được xem là mô hình thành công nhất thế giới về quản lý vốn nhà nước. Nhà nước đóng vai trò cổ đông. Không can thiệp hành chính, doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng, hướng tới tối ưu hóa lợi nhuận. Đây là gợi mở quan trọng cho việc Việt Nam nghiên cứu mô hình quỹ đầu tư quốc gia thay thế vai trò phân tán của nhiều cơ quan quản lý vốn hiện nay.
Khi được trao quyền đúng mức, vận hành theo chuẩn mực thị trường và chịu trách nhiệm rõ ràng, DNNN sẽ thật sự phát huy vai trò dẫn dắt, trở thành động lực tăng trưởng, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.