GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chuyển hóa từ công cụ thành động lực

Đánh giá hiện trạng công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học và nêu định hướng một số giải pháp là nội dung cuộc phỏng vấn của phóng viên Nhân Dân cuối tuần với GS, TS Huỳnh Văn Chương (ảnh bên), Cục trưởng Quản lý Chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Xin ông cho biết, vì sao công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục lại được coi là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn hiện nay?

- Giáo dục Việt Nam đang nỗ lực mạnh mẽ và quyết liệt trong việc thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục, coi đó là yếu tố then chốt, không thể thiếu cho mọi hoạt động và cho tăng trưởng mang tính bền vững lâu dài. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 cụm từ "chất lượng" được nhắc đến 16 lần, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ, Kế hoạch triển khai số 2811/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Nghị quyết số 281 của Chính phủ, bảo đảm chất lượng cho mọi hoạt động, nhiệm vụ của Nghị quyết 71 đã định vị rõ đây là động lực cho hành động và đột phá ở mọi cấp học, đóng vai trò nền tảng và tiên quyết để thực thi tự chủ đại học thực chất, đi đôi với yêu cầu giải trình và minh bạch hóa. Từ đó, công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng được xem là 1 trong 6 nội dung lớn, trụ cột của hệ thống giáo dục và trong hệ thống các Luật về giáo dục, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, giúp bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục. Bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng không chỉ đơn thuần là hoạt động giám sát, mà còn là công cụ chiến lược để các trường xây dựng hệ thống tự bảo đảm chất lượng bên trong (IQA), tự đánh giá, đối sánh, tự điều chỉnh và đổi mới liên tục. Đặc biệt, trong tiến trình hội nhập giáo dục sâu rộng với quốc tế thì bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng sẽ tạo thuận lợi thúc đẩy hợp tác, liên kết đào tạo, công nhận văn bằng, chương trình đào tạo lẫn nhau.

- Với vai trò Cục trưởng, ông đánh giá thế nào về công tác bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục đại học, thực trạng đội ngũ và nguồn lực?

- Tính đến 31/8/2025, tỷ lệ cơ sở giáo dục đại học đã hoàn thành tự đánh giá (chu kỳ 1) đạt 94,2% (228/242 cơ sở giáo dục đại học không thuộc khối an ninh quốc phòng), và 100% (23/23 trường cao đẳng sư phạm) ở khối cao đẳng sư phạm. Về mặt tổ chức, qua kết quả khảo sát, có 96,3% (170/177) cơ sở giáo dục đại học đã thành lập bộ phận chuyên trách về bảo đảm chất lượng bên trong từ cấp khoa, phòng đến cấp cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, việc triển khai IQA ở một số cơ sở giáo dục đại học vẫn còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả, thiếu sự kết nối chặt chẽ với chiến lược phát triển chung và chiến lược bảo đảm chất lượng theo từng giai đoạn của nhà trường; chưa vận hành đầy đủ và đúng theo chu trình lập kế hoạch-triển khai-kiểm tra, giám sát-hành động cải tiến chất lượng (thường được gọi thuật ngữ chung trong kiểm định là PDCA- Plan-Do-Check-Act). Khả năng cải tiến liên tục hiện nay của hầu hết các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn yếu, thể hiện qua điểm số thấp nhất ở Tiêu chí 9.6 (về cải tiến quy trình - theo bộ tiêu chuẩn được quy định trong Công văn 1668/QLCL-KĐCLGD, ngày 31/12/2019) chỉ đạt 3,64/5, các cơ sở giáo dục đại học thường dồn sức hoàn thiện các tiêu chuẩn, tiêu chí vào năm cuối chu kỳ để chuẩn bị cho chu kỳ kiểm định mới, điều này chưa thật sự đúng và thực chất về bảo đảm chất lượng là cải tiến liên tục, không có điểm dừng. Văn hóa chất lượng đang dần hình thành nhưng chưa thật sự lan tỏa bền vững, ở đâu người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học triển khai quyết liệt và am hiểu sâu về bảo đảm chất lượng nơi đó có kết quả kiểm định chất lượng cơ sở và chương trình tốt hơn và vươn lên nhanh hơn.

Về nhân sự bảo đảm chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học: Khoảng 15,25% ý kiến khảo sát phản ánh tình trạng vẫn còn thiếu cán bộ chuyên trách về bảo đảm chất lượng để đảm bảo IQA vận hành tốt. Phần lớn nhiệm vụ bảo đảm chất lượng vẫn do giảng viên kiêm nhiệm đảm trách. Đội ngũ còn mỏng, chưa đồng đều về năng lực chuyên môn và thiếu kinh nghiệm quốc tế, chưa được tiếp cận các lớp đào tạo và tập huấn thường xuyên về bảo đảm chất lượng. Đáng chú ý, dù đã có cán bộ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ, nhưng số người được cấp thẻ kiểm định viên còn rất ít hoặc chưa đạt qua các đợt sát hạch.

Nguồn lực tài chính dành cho bảo đảm chất lượng còn thiếu và không ổn định, nhiều cơ sở giáo dục đại học chưa phân định rõ nguồn lực tài chính cho công tác bảo đảm chất lượng hằng năm nên còn khá lúng túng cho vấn đề đầu tư cho các hoạt động này. Hệ thống cơ sở dữ liệu và minh chứng còn phân tán, lưu trữ thủ công, gây khó khăn trong việc quản lý, giám sát và khai thác dữ liệu để phục vụ cải tiến.

dhbkhn-8200.jpg
Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức tập huấn tự đánh giá các chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA phiên bản 4.0.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 78/QĐ-TTg, ông có thể cho biết những vấn đề đã được ghi nhận về nội dung này?

- Sau ba năm triển khai Quyết định số 78/QĐ-TTg (giai đoạn 2022-2025), chúng ta đã có kết quả sơ kết rất lạc quan về sự phát triển của hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm, với nhiều mục tiêu đã hoàn thành và thậm chí là vượt xa kỳ vọng. Có thể nói, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình rất rõ rệt.

Về số lượng kiểm định chương trình: Mục tiêu ban đầu của Quyết định số 78 chỉ là 35% chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định, nhưng đến tháng 8/2025, chúng ta đã có 2.637 chương trình đào tạo được kiểm định. Con số này tương đương với tỷ lệ 52,1% so với tổng số lượt ngành đại học, tức là chúng ta đã vượt mức mục tiêu trung hạn một cách ngoạn mục. Điều đáng mừng hơn nữa là về hội nhập quốc tế. Tỷ lệ chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế đã chiếm tới 26,39%, vượt xa chỉ tiêu 10% đề ra. Điều này chứng tỏ chất lượng đào tạo của các trường đang được nâng cao, đủ sức cạnh tranh và tiệm cận với các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

Hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ IQA đã được thiết lập. Qua kết quả khảo sát từ 177 cơ sở giáo dục đại học cho thấy có tới 96,3% cơ sở giáo dục đại học đã thành lập đơn vị hoặc bộ phận chuyên trách về bảo đảm chất lượng. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống quản trị đại học hiện đại. Hệ thống IQA tại các trường hiện được đánh giá là khá hoàn thiện (64,97%) hoặc hoàn thiện (10,17%). Các hoạt động tự đánh giá chu kỳ 1 cũng đạt độ phủ rất cao, gần 94,2% cơ sở giáo dục đại học đã thực hiện.

- Vậy đâu là những thách thức cần khắc phục?

- Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng vẫn đối mặt với một số thách thức mang tính hệ thống:

Vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (IQA) thiếu thực chất; khả năng cải tiến liên tục còn yếu. Hoạt động kiểm định chương trình đào tạo làm bộc lộ điểm yếu lớn, nhất là thiếu sự tương thích giữa chuẩn đầu ra với phương pháp dạy học và đánh giá.

Đội ngũ nhân sự bảo đảm chất lượng còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm. Đội ngũ kiểm định viên hiện nay thiếu về số lượng và chưa đồng đều về năng lực, đặc biệt là khả năng tư vấn cải tiến, phân tích dữ liệu và đánh giá năng lực đầu ra.

Năng lực hội nhập quốc tế còn hạn chế: Việt Nam vẫn thiếu cơ chế công nhận lẫn nhau về kết quả kiểm định với các tổ chức quốc tế. Sự tham gia của các tổ chức kiểm định trong nước vào mạng lưới quốc tế còn hạn chế, chủ yếu dừng ở mức tham gia/quan sát viên.

Hệ thống dữ liệu còn phân tán, lưu trữ thủ công, chưa tạo được nền tảng để minh bạch hóa thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình.

- Trên những ghi nhận, đánh giá như vậy, để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục đại học, sẽ có những giải pháp nào được đề xuất, triển khai, thưa ông?

- Trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là chuyển hóa kiểm định từ công cụ đánh giá sang động lực phát triển. Chúng tôi tập trung vào 5 định hướng lớn:

Rà soát, điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về bảo đảm và kiểm định chất lượng (sau khi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học sửa đổi được thông qua). Xây dựng cơ chế phân loại các cơ sở giáo dục đại học theo mức độ phát triển IQA và kết quả kiểm định.

Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu bảo đảm chất lượng, minh bạch: Thành lập Trung tâm phân tích dữ liệu bảo đảm chất lượng quốc gia, kết nối với các cơ sở dữ liệu ngành (HEMIS, SAHEP). Ứng dụng công nghệ số, AI và dữ liệu lớn trong vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ.

Nâng cao năng lực của tổ chức kiểm định: Yêu cầu các tổ chức kiểm định tái cấu trúc tổ chức theo hướng chuyên nghiệp. Mục tiêu là trên 50% tổ chức kiểm định trong nước đạt ít nhất một thỏa thuận công nhận kết quả kiểm định lẫn nhau quốc tế (MRA) đến năm 2030.

Gắn bảo đảm chất lượng với tự chủ và quản trị: Lồng ghép yêu cầu bảo đảm chất lượng như điều kiện gián tiếp trong mở ngành, tuyển sinh, phân bổ kinh phí, phân tầng, xếp hạng và giao quyền tự chủ. Gắn trách nhiệm bảo đảm chất lượng với đánh giá hiệu quả đơn vị và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu.

Tăng cường hội nhập quốc tế: Khuyến khích các trường tham gia kiểm định quốc tế (AUN-BĐCL, ABET, FIBAA...) và đề xuất thí điểm các mô hình công nhận bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài cho một số ngành đặc thù.

- Có ý kiến cho rằng hoạt động kiểm định tạo áp lực cho các trường?

- Đúng là trong quá trình triển khai kiểm định chất lượng, đã tạo ra những áp lực nhất định cho các trường, nhưng chúng tôi nhìn nhận đó là áp lực cần thiết để hệ thống giáo dục đại học chuyển mình và phát triển bền vững.

Mục tiêu cốt lõi của Quyết định số 78 không phải là tạo ra thủ tục, mà là để thúc đẩy sự phát triển thực chất của từng cơ sở đào tạo. Hoạt động phát triển IQA phải được xem là công cụ phát triển nội lực, cải tiến chất lượng gắn với đầu tư nguồn lực.

Tóm lại, mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là hướng công tác kiểm định ngày càng chuyên nghiệp và thực chất, giúp các nhà trường hiểu rõ nội lực của mình, cải tiến chất lượng để khẳng định thương hiệu và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Áp lực kiểm định, nếu được quản lý tốt, sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục tiến lên.

- Xin trân trọng cảm ơn ông ■

Chúng ta đã có 8 Trung tâm Kiểm định Chất lượng Giáo dục trong nước được cấp phép hoạt động và 11 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Về hội nhập quốc tế của các tổ chức kiểm định, bước đầu chúng ta cũng đạt được chỉ tiêu đặt ra. Đã có ít nhất 60% tổ chức kiểm định tham gia mạng lưới QA quốc tế hoặc thiết lập hợp tác (như với INQAAHE, APQN, ASEAN-QA), vượt mức yêu cầu 50%.

Xem thêm