Nhiều giải pháp sống chung với hạn-mặn đã, đang được các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long triển khai. (Ảnh NSNA Nguyễn Thanh Dũng)
Nhiều giải pháp sống chung với hạn-mặn đã, đang được các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long triển khai. (Ảnh NSNA Nguyễn Thanh Dũng)

GÓP Ý KIẾN VÀO DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN TRÌNH ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG:

Bảo đảm an ninh nguồn nước thích ứng với biến đổi khí hậu

An ninh nguồn nước là vấn đề sống còn của quốc gia. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, dân số tăng, nhu cầu phát triển mạnh mẽ, việc bảo đảm an ninh nguồn nước cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 2013 quy định: đất đai, tài nguyên nước,... là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, nước là nguồn tài nguyên có giá trị nhưng thường không được đánh giá hoặc định giá về mặt kinh tế vì vẫn được xem là của trời cho, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng nước lãng phí và ý thức bảo vệ tài nguyên nước chưa cao.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an ninh nguồn nước

Trong những năm gần đây, nhận thức rõ tài nguyên nước là một trong những trụ cột của phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia, gắn với thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó, Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị là văn kiện có tính định hướng chiến lược và đã khẳng định rõ việc bảo đảm an ninh nguồn nước là "Bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống; đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất, kinh doanh; chủ động tích trữ, điều hòa nguồn nước, khai thác, sử dụng hiệu quả đi đôi với bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; ứng phó hiệu quả với các thảm họa, thiên tai...". Những thay đổi về tư duy, cách tiếp cận và phương thức quản trị mới tại Luật Tài nguyên nước 2023 là để hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước như Bộ Chính trị đã đặt ra tại Kết luận số 36-KL/TW.

Luật Tài nguyên nước 2023 gồm 10 chương, 86 điều, với nguyên tắc quản lý cốt lõi là "Tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, thống nhất về số lượng và chất lượng; giữa nước mặt và nước dưới đất; giữa thượng lưu và hạ lưu...; quản lý tài nguyên nước phải bảo đảm thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính...". Luật đã thể chế hóa bốn nhóm chính sách: Bảo đảm an ninh nguồn nước, coi an ninh nước là nền tảng của phát triển quốc gia, gắn kết với các quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ứng phó biến đổi khí hậu; Xã hội hóa ngành nước, huy động nguồn lực ngoài nhà nước trong đầu tư phát triển, khai thác, phục hồi và bảo vệ nguồn nước; Kinh tế tài nguyên nước, chuyển dần từ quản lý hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế, tính đúng, tính đủ giá trị tài nguyên nước; Bảo vệ, phục hồi tài nguyên nước và phòng chống tác hại do nước gây ra.

Đây là bước ngoặt quan trọng, thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong việc xây dựng nền quản trị tài nguyên nước hiện đại, toàn diện và thích ứng với biến đổi khí hậu.

s2.jpg
Nước sạch về Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh NSNA Nguyễn Thanh Dũng)

Định hướng và giải pháp chủ chốt

Thứ nhất, xác định an ninh nguồn nước là một trong những trụ cột của an ninh quốc gia và là yếu tố cốt lõi của phát triển bền vững. Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tới đây cần nhấn mạnh việc bảo đảm an ninh nguồn nước là chỉ tiêu bắt buộc trong chiến lược phát triển quốc gia. Tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, thống nhất theo lưu vực sông, liên vùng, liên ngành.

Thứ hai, bảo đảm an ninh nguồn nước gắn liền với việc nâng cao năng lực thích ứng và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, nhất là trong bối cảnh hạn hán, thiếu nước, mưa lũ, ngập úng diễn ra ngày càng khốc liệt trên cả nước.

Phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và xây dựng kịch bản nguồn nước cho lưu vực sông để trong mọi tình huống, chuyển từ thế "bị động" sang "chủ động" nguồn nước cho các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, nhất là nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Đầu tư hiện đại hóa công nghệ quan trắc, vận hành các công trình điều tiết nguồn nước, áp dụng mô hình điều hòa, phân phối tài nguyên nước thông minh, đặc biệt trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và duyên hải miền trung, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và mưa lũ.

Song song với những định hướng và giải pháp để giải quyết tình trạng hạn hán, thiếu nước là vấn đề về lũ lụt, ngập úng. Những đợt mưa lớn, ngập lụt diễn ra trên diện rộng trong thời gian gần đây ở nhiều vùng của đất nước đã phản ánh rõ ràng mức độ bất định và cực đoan của khí hậu. Hàng loạt khu vực đô thị, đồng bằng, miền núi đang phải hứng chịu lũ lụt, sạt lở, ngập úng thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy quy hoạch và thích ứng với khí hậu cực đoan trên nền tảng quản trị tài nguyên nước chủ động, liên ngành và dựa trên khoa học, công nghệ hiện đại.

Cùng với việc xây dựng, nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và mô hình dự báo mưa-lũ-ngập với độ chính xác cao hơn, việc chuyển đổi số trong quản lý nước cần được coi là một trụ cột chiến lược: kết nối liên hồ chứa, trạm quan trắc, hệ thống thoát nước đô thị và dữ liệu mưa trên toàn quốc nhằm ra quyết định kịp thời trong điều hành xả lũ, cắt lũ và ứng phó ngập lụt.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư và hạ tầng kỹ thuật theo hướng "thích nghi với nước" thay vì "chống lại nước", đây là yêu cầu cấp thiết đối với các địa phương trong bối cảnh thiên tai cực đoan gia tăng. Ở các vùng đồng bằng và đô thị ven biển, cần chuyển từ mô hình "thoát nhanh nước mưa" sang mô hình "giữ - chậm - thấm - tiêu" thông qua việc: mở rộng không gian thoát nước tự nhiên, hồ điều hòa, công viên sinh thái, sông, kênh nội đô; kiểm soát san lấp mặt nước và bê-tông hóa. Ở các vùng trung du, miền núi, cần phục hồi rừng đầu nguồn, tăng khả năng thấm nước của đất để giảm lũ quét và sạt lở.

Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng khó dự đoán, việc xây dựng hạ tầng trữ nước linh hoạt và điều tiết đa mục tiêu cần được đặt lên hàng đầu. Các cụm hồ chứa liên vùng, hồ nhân tạo, đập ngăn mặn, ao hồ nông thôn cần được quy hoạch, đầu tư theo hướng đa mục tiêu, có tính liên kết vùng, vừa trữ nước, vừa cắt lũ, vừa duy trì sự phát triển của các hệ sinh thái thủy sinh. Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông minh, hiện đại để vận hành hồ chứa theo thời gian thực, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du.

Thứ ba, phục hồi và bảo vệ nguồn nước và hệ sinh thái thủy sinh. Đẩy mạnh trồng và phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn; duy trì dòng chảy tối thiểu cho các dòng sông; khôi phục các "dòng sông chết" vừa để cải thiện chất lượng môi trường nước, vừa tạo không gian sinh thái,
cảnh quan.

Thứ tư, huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội. Đưa nước trở thành lĩnh vực đầu tư ưu tiên, khuyến khích doanh nghiệp tham gia các dự án cấp nước, xử lý nước thải, tái sử dụng nước, tích trữ nước mưa và xây dựng các công trình điều tiết nguồn nước. Khuyến khích phát triển kinh tế tuần hoàn trong sử dụng nước, đặc biệt trong công nghiệp và nông nghiệp.

Thứ năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế và ngoại giao nguồn nước. Chủ động tham gia các cơ chế chia sẻ dữ liệu, quy chế vận hành sông Mê Công và sông Hồng-Thái Bình; tăng cường hợp tác khoa học-công nghệ, huy động vốn quốc tế cho các chương trình phục hồi và bảo vệ nguồn nước. Đồng thời, nâng tầm "ngoại giao nước" trở thành công cụ hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Thứ sáu, xây dựng Bộ chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia. Đây là công cụ khoa học giúp theo dõi, đánh giá hiệu quả về chính sách và mức độ bảo đảm an ninh nguồn nước. Bộ chỉ số cần phản ánh đầy đủ năm trụ cột: Nước cho dân sinh; Nước cho phát triển kinh tế; Nước cho hệ sinh thái; Khả năng chống chịu với thiên tai, biến đổi khí hậu; Quản trị và hợp tác nguồn nước.

Thứ bảy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội. Mỗi người dân, mỗi tổ chức cần coi bảo vệ nguồn nước là đạo đức và trách nhiệm. Cần đưa giáo dục về bảo vệ tài nguyên nước vào chương trình học đường, phong trào thi đua, các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị xanh, bền vững.

Thực hiện thành công mục tiêu "Bảo đảm an ninh nguồn nước thích ứng với biến đổi khí hậu" chính là góp phần thực hiện thắng lợi tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ■

Nếu quản trị được tài nguyên nước một cách thông minh, Việt Nam có thể vừa bảo đảm mục tiêu dân sinh, vừa nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp, năng lượng, giảm thiểu rủi ro do khí hậu, tiến tới tăng trưởng xanh và phát triển
bền vững.

Xem thêm